Lài trâu (Tabernaemontana bovina Lour.) là loài cây thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae), phân bố ở nhiều tỉnh của Việt Nam như Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh,.... Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, cây được sử dụng với mục đích điều trị đau bụng, bệnh đường hô hấp và một số bệnh ngoài da. 

Tổng quan

Tên gọi khác: Ớt làn lá nhỏ

Tên khoa học: Tabernaemontana bovina Lour.

Họ thực vật: họ Trúc đào - Apocynaceae

Phân bố: Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai...

Đặc điểm thực vật

Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao đến 5 m. Cành non nhẵn, không lông.

Lá: cuống lá dài 2–8 mm; hình bầu dục, kích thước 6,5–23 × 1,3–6 cm, gốc hình nêm, hai mặt nhẵn, không lông.

Cụm hoa xim ở nách lá, dài 5–14 cm. Tràng hoa ở nụ trưởng thành dài 0,9–1,1(–3) cm; phần đầu nụ dạng hình trứng hoặc gần hình cầu, chiếm 0,2–0,3 chiều dài nụ; đỉnh tròn hoặc tù; mặt ngoài và trong nhẵn, hoặc mặt trong có lông thưa quanh vị trí đính nhị; ống tràng hơi xoắn hoặc không, dài 1,1–1,4(–2,8) cm; các thùy tràng dài 5–8(–15) mm. Nhị đính ở nửa trên ống tràng; bao phấn kích thước 2–3 × 0,5–0,8 mm, đỉnh nhọn, gốc hình tim. Bầu nhụy dài 1–2 mm; vòi nhụy và đầu nhụy dài 6,5–10 mm.

Quả có cuống rất ngắn; hình bầu dục lệch, đỉnh nhọn, không có gờ; kích thước 1,5–2,6 × 0,6–1 cm, chứa 1–3 hạt.

Hạt hình bầu dục lệch; kích thước 5–8 × 3–5 × 3–4 mm.

Bộ phận dùng: rễ

Công dụng

Y học cổ truyền

Chữa đau bụng, hầu họng sưng đau, phong thấp tê đau, hen phế quản, hắc lào, ghẻ lở.

Y học hiện đại

Lài trâu (Tabernaemontana bovina) chứa alkaloid indol monoterpen. Nhiều nghiên cứu đã phân lập được các alkaloid kiểu Vincan và Eburnan với cấu trúc đa dạng, bao gồm cả các hợp chất mới như taberbovcamine A và taberboviline. Một số alkaloid điển hình được xác định như 10-hydroxy-14,15-didehydrovincanmine, 14,15-didehydrovincanmine, 14,15-didehydroapovincanmine và criocerine. 

Các nghiên cứu chỉ ra tiềm năng cho cây Lài trâu:

  • Giảm đau: Phân đoạn ethyl acetat từ lá Tabernaemontana bovina cho thấy tác dụng giảm đau rõ rệt trên chuột nhắt Swiss khi dùng đường uống với liều 200–800 mg/kg. Hiệu quả này được ghi nhận trên mô hình gây đau bằng acid acetic với mức ức chế cao nhất lên đến 93,9%  
  • Hạ đường huyết: Một số alkaloid kiểu Vincan phân lập từ Tabernaemontana bovina được ghi nhận có khả năng làm tăng tiêu thụ glucose trên mô hình tế bào cơ L6 (myotube in vitro) thông qua điều hòa đường truyền tín hiệu IRS2/PI3K/Akt, gợi ý tiềm năng trong hỗ trợ điều trị rối loạn chuyển hóa glucose.
  • Chống ung thư: các alkaloid indol monoterpen phân lập từ Tabernaemontana bovina còn thể hiện hoạt tính ức chế tăng sinh trên năm dòng tế bào ung thư người trong điều kiện in vitro với giá trị IC₅₀ dao động từ 0,58 đến 26,19 µM

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

Trong dân gian sử dụng Lài trâu chữa ho và sốt (dùng lá và rễ).

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)