Ngâu (Aglaia odorata Lour.) hay còn được gọi là mộc ngưu là loài cây bụi nhỡ có hoa màu vàng mang hương thơm đặc trưng thuộc họ Xoan (Meliaceae), thường được trồng phổ biến làm cảnh hoặc lấy hoa ở nhiều vùng khắp nước ta. Theo y học dân gian, toàn cây ngâu là một vị thuốc quý với nhiều công dụng khác nhau. Y học hiện đại cũng đã bước đầu chứng minh được các tác dụng này trên thực nghiệm.

Tổng quan

Tên gọi khác: mộc ngưu

Tên khoa học: Aglaia odorata Lour. 

Họ thực vật: họ Xoan - Meliaceae 

Phân bố và sinh thái: tại Việt Nam, cây có ở một số tỉnh như Sơn La (Mộc Châu), Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An, Quảng Trị, Gia Lai, Kon Tum, Kiên Giang. Cây thường được trồng. 

Đặc điểm thực vật

Cây nhỡ, cao khoảng từ 4-7m.

Lá cây mọc kép dạng lông chim lẻ, lá mọc so le, dài khoảng 4-9cm, rộng từ 1,5-3 cm. Mỗi cụm có từ 5-7 lá chét, kích thước nhỏ. Mặt trên sẫm bóng, cuống lá có cánh nhỏ.

Hoa mọc thành cụm ở kẽ lá, cuống mảnh, có thể bằng hoặc đôi khi dài hơn lá. Hoa màu vàng, có mùi thơm đặc trưng, lưỡng tính hoặc hoa đực đã bị tiêu giảm. Đài 5, tràng 5, nhị 5, bầu nhỏ, 2 ô.

Quả hạch, có dạng hình cầu. Khi quả chín có màu đỏ tươi, có 1 hạt, hạt được phủ một lớp áo.

Bộ phận dùng: toàn cây

Công dụng

Y học cổ truyền

Hoa có vị cay, ngọt, tính bình. Cành lá có tính bình, hơi ôn 

Quả và rễ làm thuốc gây nôn. Lá chữa ghẻ. Hoa chữa khí uất ngực đau nhói, ăn không tiêu, bụng đầy trướng, sốt, vàng da, hen suyễn. Cành lá chữa đòn ngã tổn thương, ung nhọt. Tinh dầu dùng sát trùng. 

Y học hiện đại

Thành phần hóa học: Từ tinh dầu cành/thân xác định được 39 hợp chất (chiếm 76,4%). Thành phần chủ yếu gồm các sesquiterpene: germacrene D (20,3%), α-humulene (17,1%), α-himachalene (12,7%) và β-caryophyllene (10,2%). Ngoài ra, phân lập được hai chất đặc trưng là ar-turmerone và eichlerialactone. Từ tinh dầu hoa xác định được hệ thống dẫn xuất cadinene phong phú (chiếm khoảng 48%, trong đó δ-cadinene chiếm 27%). Hợp chất β-humulene-7-ol cùng với các dẫn xuất methyl jasmonate (4%) được xác định là những thành phần cốt lõi tạo nên hương thơm đặc trưng của hoa Ngâu. Các thành phần khác bao gồm muurola-4,10(14)-dien-1β-ol, linalool, decylaldehyde và juniper camphor. Tinh dầu lá chứa linalool, β-elemene, aromadendrene, nerolidol, farnesol và elemol. Một số flavagline được phân lập từ cây bao gồm: rocaglamide, rocaglaol, rocaglaone A và B, aglaodoratins A–H, 10-oxo-aglaxiflorin D, aglaodoratin I, aglaindanone E. Ngoài ra, từ cây còn phân lập được các triterpenoid (odoratanone A, 3-acetoxy aglinin C và aglaiadoratol, sapelins A, isofouquierone, eichlerianic acid, shoreic acid và β-friedelinol) và diterpenoid (gồm dolabellane diterpene và các diterpene mạch vòng); Bisamide (odorine và odorinol) và Lignan (curlignan-4-O-β-D-glucopyranoside, 8-(7′,8′,9′-propanetriol-4′-methoxy-3′-O-phenylpropanoid)-7-hydroxy-6-methoxycoumarin, syringaresinol) 

Các nghiên cứu về tác dụng dược lý cho loài cây này trên các thử nghiệm in vitro in vivo đang dần làm sáng tỏ công dụng của chúng

  • Bảo vệ mạch máu não, chống đột quỵ: Trên mô hình chuột cống bị tắc động mạch não giữa (MCAO), phương pháp nhuộm TTC chứng minh ELA làm giảm rõ rệt diện tích nhồi máu não. Kết quả nhuộm HE và Nissl khẳng định ELA đảo ngược tình trạng tổn thương cấu trúc vỏ não và vùng hải mã. Trên tế bào PC12 bị gây tổn thương do thiếu oxy - glucose và tái tưới máu (OGD/R), ELA giữ ổn định chức năng ty thể thông qua việc tăng điện thế màng ty thể (nhuộm JC-1), giảm tích tụ gốc tự do superoxide. Cơ chế bảo vệ này được xác định là do ức chế con đường apoptosis ty thể phụ thuộc p53/Puma, từ đó khóa sự kích hoạt của caspase-9 và caspase-3.
  • Chống viêm: Phân đoạn chiết xuất n-butanol cùng các lignan ức chế sản sinh Nitric Oxide (NO) trên tế bào microglia BV-2 bị kích thích bởi LPS. Kháng tế bào ung thư: Đối với ung thư máu và ung thư vú, các hợp chất nhóm aglain và rocaglamide gây độc tính trên dòng tế bào bệnh bạch cầu ở người (HEL) và tế bào ung thư vú với giá trị IC₅₀ từ 0,03 đến 8,40 µM. Đặc biệt, có dẫn xuất rocaglamide thể hiện hoạt lực mạnh gấp 6 lần hóa chất tủy trị adriamycin (doxorubicin). Rocaglaol và rocaglamide phân lập từ rễ đạt độc tính tế bào cực cao trên các dòng HL-60 (bạch cầu), SMMC-7721 (ung thư gan), A-549 (ung thư phổi), MCF-7 (ung thư vú) và SW480 (ung thư đại trực tràng) với IC₅₀ thấp từ 0,007 đến 0,095 µM. Nghiên cứu phát hiện hai epimer là eichlerianic acid và shoreic acid khi đứng riêng lẻ thì hoạt tính rất yếu hoặc không có, nhưng khi phối hợp với tỷ lệ mol từ 4:1 đến 1:1 lại tạo ra hiệu ứng hiệp đồng tiêu diệt tế bào ung thư mạnh. Ngoài ra, aglaodoratin C (25 µM) gây kìm hãm chu kỳ tế bào ở pha G2/M, thúc đẩy tế bào ung thư gan HepG2 đi vào quá trình chết rụng tự nhiên.
  • Chống đái tháo đường: Các phân đoạn chiết xuất chứa dẫn xuất bisamide và lignan có khả năng ức chế mạnh enzyme α-glucosidase với giá trị IC₅₀ dao động từ 54,48 đến 240,88 µM, cao hơn so với acarbose (IC₅₀ = 590,94 µM). Ngoài ra, một số chất còn biểu hiện hoạt tính ức chế enzyme PTP1B với IC₅₀ = 179,45 µM, hỗ trợ giảm kháng insulin.
  • Bảo vệ tế bào biểu mô phế quản: Trong mô hình gây tổn thương tế bào biểu mô phế quản người (BEAS-2B) bằng dịch chiết khói thuốc lá 0,75% (CSE), các hợp chất 2,9-deoxyflavonoid từ lá Ngâu đã chứng minh hiệu quả bảo vệ tế bào rõ rệt, làm giảm tỷ lệ chết hoại mô phổi do khói thuốc.
  • Kháng khuẩn: Tinh dầu cành Ngâu thể hiện hoạt tính kháng khuẩn đối với cả chủng Gram-positive và Gram-negative bao gồm Bacillus cereus, Staphylococcus aureus, Acinetobacter baumannii và Escherichia coli. Hợp chất eichlerialactone cho hiệu quả kháng khuẩn Gram (+) tốt. Trong khi đó, ở nồng độ 50 µM, chất ethyl caffeate từ cây thể hiện hoạt tính ức chế đồng thời cả hai enzyme Acetylcholinesterase (AChE) và Butyrylcholinesterase (BChE).
  • Diệt côn trùng: hoạt chất rocaglamide và các dẫn xuất cyclopentatetrahydrobenzofuran phân lập từ cành và lá Ngâu là những chất có độc tính sinh thái rất mạnh đối với sâu hại: Xử lý trộn vào thức ăn nhân tạo đối với ấu trùng của loài sâu khoang ăn tạp (Spodoptera littoralis và Spodoptera litura) và sâu loang (Peridroma saucia), các độc chất rocaglamide đạt giá trị nồng độ gây chết 50% (LC₅₀) đạt từ 1,0 đến 8,0 ppm. Các dẫn xuất mạnh nhất đạt LC₅₀ từ 1,0 đến 1,1 ppm, hiệu lực ngang ngửa với azadirachtin (chất diệt côn trùng sinh học chuẩn từ cây sầu đâu). Thử nghiệm độc tính liều đơn trên ấu trùng của sâu P. saucia ghi nhận giá trị LD₅₀ qua đường bôi ngoài da là 0,32 µg/ấu trùng và qua đường tiêu hóa là 0,34 µg/ấu trùng. 

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

Dùng cành lá giã nát, đắp hoặc nấu nước tắm có tác dụng trị ghẻ, mụn nhọt, ngã,...

Hoa dùng để ướp chè, chế hương liệu hoặc cất thành dầu thơm.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)