Cỏ mủ (Euphorbia heterophylla L.) là một loài cây thân thảo hằng năm thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Trung Mỹ. Trong y học cổ truyền, rễ cỏ mủ được ứng dụng để điều trị sốt rét, cam tích. Hiện nay, nghiên cứu của y học hiện đại đã dần làm sáng tỏ hóa thực vật cũng như tác dụng dược lý của loài cây này.

Tổng quan

Tên gọi khác: trạng nguyên tuyến tròn, trạng nguyên bò, trạng nguyên lá khác, cỏ sữa khác lá, đại kích dị điệp

Tên khoa học: Euphorbia heterophylla L. 

Họ thực vật: họ Thầu dầu - Euphorbiaceae

Phân bố và sinh thái: Nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Trung Mỹ. Tại Việt Nam cây được trồng phổ biến ở khắp nơi

Đặc điểm thực vật

Cây thảo sống hằng năm; thân đơn, nhẵn, cao 30-45 cm, có nhựa mủ trắng.

Lá hình mũi mác nguyên, lượn sóng hay phân thùy, có lông ở mặt dưới, gốc và chóp nhọn. Lá kèm rất bé. 

Cụm hoa ở ngọn, thành ngù bé và nhiều hoa, có lá bắc bao phủ nhưng sớm rụng. Bao chung có cuống, hình trứng nhẵn, phần lớn có cả hoa dực và hoa cái.Nhị 20 hoặc hơn, có chỉ nhị phân nhánh, bao phấn nứt bên. Nhụy gồm có bầu hình bầu dục nhẵn, 3 vòi nhụy trơn, xẻ đôi tới phần giữa. 

Quả hình cầu.

Hạt hình trứng. 

Mùa hoa quả vào tháng 8-10. 

Bộ phận dùng: toàn cây.

Công dụng

Y học cổ truyền

Chữa sốt rét, cam tích (rễ); làm thuốc xổ (lá); kinh nguyệt quá nhiều, ho do phong hàn, đòn ngã tổn thương, ngoại thương xuất huyết, gãy xương (cả cây)

Y học hiện đại

Dưới đây là báo cáo tổng hợp toàn diện về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây Cỏ mủ (Euphorbia heterophylla, thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae) dựa trên các dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm được cung cấp:

Cây Cỏ mủ chứa nhiều hợp chất, nhóm hợp chất bao gồm phenolic acid, flavonoid, coumarin, Alkaloid, tannin, saponin, quinone, lignin, anthocyanocide, anthracenocide. và phloroglucinol. Một số hợp chất hợp chất được phân lập từ cây như isovitexin-C-hexoside, isorhamnetin-O-hexoside, diosmetin, halfordin, dẫn xuất quercetin tetracetate, stigmasterol, β-stigmasterol glucoside, benzoic acid và 4-hydroxybenzoic acid. Phân tích GC/MS tinh dầu từ phần trên mặt đất của cây Cỏ mủ xác định được 35 hợp chất trong đó terpenoid là nhóm chính (88,70%). Cụ thể, monoterpene (69,48%): Thành phần chính gồm 1,8-cineole (32,03%) và camphor (16,54%), endo-borneol (4,94%), limonene (4,27%) và β-pinene (3,89%); Sesquiterpene (18,63%): Nổi bật có β-elemene (5,92%); Diterpenoid (kaur-16-ene) và pentatriacontane (3,91%). Về thành phần dinh dưỡng, dịch chiết nước của cây chứa một lượng carbohydrate (10,29 mg/g) và protein (7,43 mg/g). Hàm lượng ascorbic acid (vitamin C) đạt tới 1,14%, hệ đường trong lá bao gồm: xylose, maltose, galactose, lactose và lactulose.

Một số tác dụng dược lý của cây cỏ mủ được làm rõ qua các thử nghiệm khoa học:

  • Nhuận tràng và tẩy xổ: Các phân tử đường xylose, maltose, galactose, lactose và lactulose nằm trong phân đoạn nước của cây cỏ mủ là các loại đường hoạt động theo cơ chế nhuận tràng thẩm thấu giúp kéo nước vào lòng ruột, làm tăng thể tích và làm mềm phân.
  • Chống viêm: Trên mô hình gây phù nề bàn chân chuột bằng carrageenan, dịch chiết nước từ cây Cỏ mủ thể hiện tác dụng chống viêm rõ rệt (P < 0,001), tương đương với các thuốc kháng viêm đối chứng dương (NSAID). Thử nghiệm ở các mức liều 50, 100 và 150 mg/kg cho thấy hiệu quả kháng viêm giữa các liều là tương đương nhau (không phụ thuộc liều lượng). Dịch chiết methanol của cây được chỉ ra có khả năng ức chế mạnh con đường trung gian iNOS gây ra COX-2, ngăn chặn sự hoạt hóa thể viêm cũng như sự biểu hiện của các cytokine gây viêm trong tế bào.
  • Chống oxy hóa: Dịch chiết nước và tinh dầu của cây Cỏ mủ có khả năng quét gốc tự do mạnh trong nhiều thử nghiệm in vitro. Dịch chiết nước từ lá thể hiện hoạt tính sinh học rõ rệt với giá trị IC₅₀ lần lượt được xác định là 141,11 µg/mL đối với thử nghiệm DPPH, 258,08 µg/mL trong thử nghiệm năng lực khử và 510,03 µg/mL đối với gốc tự do hydrogen peroxide (H₂O₂). Khả năng trung hòa các gốc tự do nitric oxide (NO) và superoxide của dịch chiết nước cũng ghi nhận kết quả tương đương nhau với cùng giá trị IC₅₀ là 596,94 µg/mL.
  • Hạ đường huyết: trên mô hình chuột cống gây tiểu đường bằng alloxan, dịch chiết nước Cỏ mủ (liều 150 mg/kg và 300 mg/kg, đường uống) cho thấy hiệu quả hạ glucose huyết rõ rệt. Chỉ số đường huyết giảm có ý nghĩa thống kê khi theo dõi định kỳ tại các mốc thời gian 1 giờ, 2 giờ, 4 giờ, 8 giờ và 12 giờ sau khi uống. Trên mô hình chuột cống gây tiểu đường bằng streptozotocin (STZ), dịch chiết ethanol giúp cải thiện đáng kể lượng đường trong máu và phục hồi trọng lượng cơ thể của động vật thử nghiệm.
  • Bảo vệ chức năng sinh sản nam giới: Dịch chiết ethanol từ Cỏ mủ (EH-EtOH) chứng minh vai trò bảo vệ hệ sinh sản nam giới thông qua các cơ chế: Khôi phục hàm lượng hormone testosterone và năng lực chống oxy hóa tại chỗ; giảm thiểu biểu hiện của các cytokine gây viêm và cải thiện hệ vi tuần hoàn tại tinh hoàn; ức chế quá trình chết theo chương trình của các tế bào dòng tinh, giúp khôi phục cấu trúc mô học bình thường của các ống sinh tinh.
  • Bảo vệ võng mạc và chống thoái hóa điểm vàng: Trên dòng tế bào ARPE-19 bị tổn thương bởi ánh sáng xanh, tiền xử lý bằng dịch chiết methanol Cỏ mủ liều cao giúp ức chế đến 88,2% lượng ROS nội bào và 25,2% nồng độ NO, tăng cường 84% hoạt tính enzyme SOD và thúc đẩy sự phosphoryl hóa yếu tố bảo vệ Nrf2. Trên mô hình chuột nhắt BALB/c bị tổn thương võng mạc do ánh sáng xanh, dịch chiết giúp bảo vệ cấu trúc mắt thông qua việc làm tăng đáng kể độ dày của toàn bộ võng mạc (đạt 31%).
  • Làm lành vết thương: Khi bào chế dịch chiết lá Cỏ mủ dưới dạng thuốc mỡ bôi ngoài da trên mô hình vết thương hở ở chuột Rattus norvegicus cho kết quả dịch chiết ethanol (từ lá tươi) cho tỷ lệ khép miệng và thu nhỏ diện tích vết thương cao.
  • Kháng ký sinh trùng:  Hoạt tính diệt giun sán được thử nghiệm in vitro trên Ascaris suum. Dịch chiết thô làm giảm khả năng vận động của giun đến 100% sau 48 giờ. Nồng độ ED₅₀ lần lượt là 4,60 mg/mL (dịch chiết nước), 15,12 mg/mL (Albendazole) và 26,85 mg/mL (dịch chiết ethanol).
  • Kháng khuẩn: Dịch chiết nước từ lá Cỏ mủ thể hiện hoạt tính kháng khuẩn phụ thuộc nồng độ có tác dụng với Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus, Escherichia coliPseudomonas aeruginosa với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) được xác định là 6,25 mg/mL.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

Trồng làm cây cảnh.

Lá sắc uống làm thuốc xổ.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)