Tơ hồng nam (Cuscuta australis R.Br.) là loài cây ký sinh có lá biến thành vẩy thuộc họ Tơ hồng (Cuscutaceae), phân bố phổ biến ở nhiều tỉnh thành miền Nam nước ta. Trong y học cổ truyền, hạt của cây (còn gọi là thỏ ty tử) là một dược liệu quý được ứng dụng rộng rãi trong các bài thuốc bổ thận tráng dương, dưỡng can thận, chữa liệt dương, di tinh. Dưới góc nhìn của y học hiện đại, tơ hồng nam ngày càng chứng minh tác dụng dược lý tiềm năng trên các thử nghiệm khoa học.

Tổng quan

Tên khoa học: Cuscuta australis R.Br.

Họ thực vật: họ Tơ hồng - Cuscutaceae

Phân bố và sinh thái: phổ biến ở miền Nam Việt Nam

Đặc điểm thực vật

Cây ký sinh có thân mảnh, màu vàng hoặc nâu nhạt, sinh sống trên các cây khác và sử dụng rễ mút để hút chất dinh dưỡng từ cây chủ.

Lá của loài cây này biến dạng thành vẩy.

Hoa hiếm khi nở, có hình cầu màu trắng nhạt và tụ lại thành 10-20 hoa.

Quả hình cầu, đường kính khoảng 3mm, nứt từ dưới lên, chứa từ 2-4 hạt hình trứng.

Bộ phận dùng: hạt (thỏ ty tử)

Công dụng

Y học cổ truyền

Vị ngọt tính ấm, vào các kinh can, thận, tỳ. Tác dụng: Bổ thận ích tinh, dưỡng can minh mục, kiện tỳ chỉ tả. Chủ trị: Liệt dương, di tinh, đái không cầm được; mắt mờ, mắt hoa, ỉa lòng.

Y học hiện đại

Thành phần hóa học: Cây Tơ hồng nam (Cuscuta australis) chứa các hợp chất và nhóm hợp chất bao gồm vitamin A, β-carotene, lutein, kaempferol, actinodaphnine. Một số hợp chất đã phân lập được từ cây như quercetin glucoside, diosmetin glucoside, caffeic acid glucoside, feruloylquinic acid, isorhamnetin glucoside. Dịch chiết nước nóng từ cây chứa hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số khá cao

Hiện nay, các nghiên cứu về tác dụng dược lý của Tơ hồng nam đang dần chứng minh hiệu quả của loại dược liệu này. Một số nghiên cứu đã ghi nhận tác dụng trên các mô hình in vitro in vivo.

  • Bảo vệ gan: Thử nghiệm trên chuột bị nhiễm độc gan do acetaminophen (APAP), việc sử dụng trước dịch chiết ethanol từ thân và hạt giúp cải thiện cấu trúc mô học gan, giảm tổn thương tế bào gan và stress oxy hóa theo mô hình phụ thuộc vào liều lượng. Trên mô hình chuột cống bị nhiễm độc gan do carbon tetrachloride (CCl₄), uống dịch chiết Tơ hồng nam ở mức liều 60 mg/kg giúp làm giảm đáng kể các chỉ số ALT (32%), AST (33%), ALP (63%) và bilirubin (51%), đồng thời kết quả mô bệnh học xác nhận tác dụng bảo vệ gan và làm giảm tình trạng xơ hóa rõ rệt. Thử nghiệm docking phân tử cho thấy các hợp chất quercetin glucoside, diosmetin glucoside, caffeic acid glucoside, feruloylquinic acid và isorhamnetin glucoside có ái lực liên kết mạnh (từ -7,07 đến -19,20 kcal/mol) chống lại enzyme CYP450.
  • Hạ lipid máu: Trên mô hình chuột bị tổn thương gan, dịch chiết cây giúp cải thiện quá trình chuyển hóa lipid thông qua việc làm giảm mạnh nồng độ cholesterol tổng số (TC), triglyceride (TG), LDL-C và làm gia tăng hàm lượng cholesterol tỷ trọng cao (HDL-C) trong máu.
  • Chống viêm: Thử nghiệm trên dòng tế bào đại thực bào RAW264.7 bị gây viêm, các dịch chiết từ cây ở nồng độ từ 50 đến 200 µg/mL không gây độc cho tế bào và giúp làm giảm sản sinh nitric oxide (NO) theo hàm lượng. Ở nồng độ 200 µg/mL, dịch chiết ức chế mạnh con đường tín hiệu NF-κB, làm giảm biểu hiện của các gen liên quan đến viêm gồm COX-2 và iNOS. Trên mô hình in vivo, dịch chiết giúp làm giảm nồng độ các cytokine gây viêm là TNF-α (48%) và IL-6 (53%), đồng thời các nghiên cứu mô phỏng cho thấy các hoạt chất chính của cây có liên kết trực tiếp để ức chế các mục tiêu protein IL-2, TNF-α và IL-6.
  • Hạ đường huyết: Hoạt chất actinodaphnine phân lập từ Tơ hồng nam được xác định qua mô phỏng in silico có khả năng tương tác và ức chế enzyme dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4) mạnh hơn hoạt chất chuẩn sitagliptin. Thử nghiệm in vitro trên dòng tế bào ung thư vú MCF-7 ghi nhận dịch chiết ethanol chứa actinodaphnine (liều 568,75 µg/mL) có khả năng làm giảm hoạt tính của enzyme DPP-4 (xuống còn 214,74 ± 109,21 nmol/phút/mg protein so với nhóm chứng không điều trị là 418,55 ± 134,00 nmol/phút/mg protein), hỗ trợ điều trị tiểu đường tuýp 2.
  • Chống oxy hóa: Dịch chiết lá và thân cây có khả năng quét các gốc tự do DPPH và ABTS rõ rệt trong các thử nghiệm in vitro, đồng thời làm tăng khả năng khử sắt (FRAP). Thử nghiệm trên chuột bị tổn thương gan chứng minh dịch chiết làm tăng cường chống oxy hóa thông qua việc nâng cao hoạt độ các enzyme CAT, SOD, GPx và làm giảm hàm lượng chất gây béo ngoại biên malondialdehyde (MDA) tại các cơ quan não, tim và gan.
  • Tác động lên hệ sinh sản: Thử nghiệm đường uống dịch chiết nước từ thân và hạt Tơ hồng nam (liều 300 mg/kg/ngày trong 7 ngày) trên chuột cống Wistar đực trưởng thể hiện các tác động rõ rệt lên cấu trúc tinh hoàn và nồng độ nội tiết tố, tuy nhiên hiệu quả này bị chi phối mạnh mẽ bởi chế độ dinh dưỡng (hàm lượng protein-năng lượng nạp vào). Dịch chiết làm sụt giảm nồng độ huyết tương của hormone ngoại vi LH và FSH ở các nhóm thử nghiệm so với nhóm chứng. Đối với nồng độ testosterone, nhóm dùng dịch chiết hạt kết hợp chế độ ăn ít đạm và nhóm dùng dịch chiết thân kết hợp chế độ ăn bình thường ghi nhận sự suy giảm đáng kể, trong khi đó nhóm dùng dịch chiết thân kết hợp chế độ ăn ít đạm lại giúp duy trì nồng độ testosterone ổn định.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

  • Trị mặt mọc mụn, nhức đau: Thỏ ty tử, giã nát, ép lấy nước bôi.
  • Trị tự nhiên bị sưng phù, thân thể và mặt sưng to: Thỏ ty tử 1 thăng, Rượu 5 thăng, ngâm 2-3 ngày. Mỗi lần uống 1 thăng, ngày 3 lần
  • Trị trĩ sưng, ngứa, trong hậu môn đau: Thỏ ty tử, chưng cho hơi vàng đen,tán nhuyễn, hòa với trứng gà bôi.
  • Bổ Thận khí, tráng dương đạo,trợ tinh thần, khinh (làm nhẹ) lưng, chân: Thỏ ty tử (chưng rượu, sấy khô) 1 cân, Phụ tử (chế) 160g. tán bột. Trộn với rượu hồ làm viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 50 viên với rượu.
  • Trị tinh khí bất túc, thận thủy bị táo, họng khô, khát, tai ù, đầu váng, mắt mờ, da mặt sạm đen, lưng đau, gối đau: Thỏ ty tử (chưng rượu) 80g, Ngũ vị tử 40g. Tán bột. Trộn mật làm hoàn, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 70 viênlúc đói với nước muối hoặc rượu.
  • Trị Tâm Thận bất túc, tinh thiếu, huyết khô, phiền nhiệt, khát muốn uống, tinh hư, huyết ít: Thỏ ty tử (chưng rượu) 80g, Mạch môn (bỏ lõi) 80g. Tán bột. Trộn mật làm hoàn, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 70 viên lúc đói với nước muối hoặc với nước sôi, trước bữa ăn.
  • Trị Tâm khí bất túc, suy tư quá độ, Thận kinh hư tổn, chân dương không vững, tiểu đục, hay mơ, tiết tinh: Thỏ ty tử 200g, Bạch phục linh 120g, Thạch liên tử (bỏ vỏ) 80g. Tán bột. Trộn với rượu làm hoàn, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước muối, lúc đói.
  • Trị dễ sẩy thai: Thỏ ty tử (sao), 160g, Tang ký sinh, Tục đoạn, A giao đều 80g. Thuốc tán bột còn A giao nấu với nước cho chảy ra, hòa với thuốc bột làm thành viên 0,4g. Mỗi lần uống 20 viên, ngày hai lần.
  • Trị thận hư, liệt dương, Di tinh, lưng đau, tiểu nhiều: Thỏ ty tử, Ngũ vị tử, Tế tân, Thỏ ty tử đều 40g, Sung úy tử, Thục địa đều 80g, Hoài sơn 60g. tán bột, trộn mật làm hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g.
  • Trị Di tinh, bạch trọc: Thỏ ty tử 12g, Ngũ vị tử 6g, Phục linh, Hạt sen đều 12g. dùng Sơn dược hồ, làm hoàn. Mỗi lần uống 8g với nước muối nhạt hoặc sắc uống.
  • Trị tiêu chảy lâu ngày do Thận hư: Thỏ ty tử, Câu kỷ, Đảng sâm, Phục linh đều 12g, Sơn dược 16g, Hạt sen 12g. Tán bột. Dùng gạo hồ, làm hoàn. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 12g.
  • Trị mắt mờ do Can huyết suy: Thỏ ty tử, Sơn thù, Cúc hoa, Địa hoàng. Lượng bằng nhau, tán bột, luyện với mật làm hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g với rượu.
  • Trị mắt mờ do Can Thận suy: Thỏ ty tử, Thục địa, Xa tiền tử đều 12g. tán bột. Trộn mật làm hoàn Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g với rượu.
  • Trị tiêu khát: Thỏ ty tử sắc uống hoặc tán thành bột, làm hoàn uống.
  • Trị Tỳ Thận đều hư, tiêu lỏng: thỏ ty tử, Thạch liên tử đều 9g, Phục linh 12g, Hoài sơn 15g. Sắc uống.
  • Trị khớp viêm: Thỏ ty tử 6g, Vỏ trứng gà 9g, Bột xương trâu 15g, Tán bột, trộn đều.mỗi lần uống 6g, ngày 3 lần.
  • Trị bạch điến phong: Thỏ ty tử cả thân và hạt 25g, ngâm vào 100ml cồn 95%, sau 48 giờ, đem xát vào vùng bệnh, ngày 2 – 3 lần. Trị 10 ca, có kết quả 8 ca.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)