Trâu cổ (Ficus pumila L.) là cây dây leo hóa gỗ thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), phân bố tự nhiên ở nhiều khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trong y học dân gian, cây được sử dụng chủ yếu trong các chứng phong thấp, đau nhức xương khớp, đau lưng và một số rối loạn tiêu hóa; các nghiên cứu hiện đại ghi nhận nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học, nổi bật với tác dụng chống viêm, giảm đau và chống oxy hóa.

Tổng quan

Tên gọi khác: Vương bất lưu hành

Tên khoa học: Ficus pumila L.

Họ thực vật: Moraceae – Họ Dâu tằm.

Phân bố và sinh thái: Ficus pumila có nguồn gốc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và khu vực Đông Dương, trong đó Kew xác nhận Việt Nam thuộc vùng phân bố tự nhiên của loài. Hiện cây còn được trồng làm cảnh tại nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Ở Việt Nam, cây thường gặp ở vùng đồi núi, ven rừng, trên vách đá, tường cũ hoặc thân cây lớn. Đặc trưng sinh thái nổi bật là khả năng leo bám nhờ rễ phụ mọc ở các đốt của cành dinh dưỡng; cây ưa điều kiện ẩm nhưng khi đã phát triển có khả năng chịu điều kiện tương đối khắc nghiệt.

Đặc điểm thực vật

Đây là cây bụi leo hoặc dây leo hóa gỗ, thường xanh, thân và cành có nhựa mủ trắng. Cành non bò sát bề mặt và sinh nhiều rễ phụ tại đốt, giúp cây bám chắc vào đá, tường hoặc vỏ cây.

Một đặc điểm rất quan trọng để nhận dạng F. pumila là lá dị hình rõ rệt giữa cành dinh dưỡng và cành sinh sản:

  • Cành dinh dưỡng có lá nhỏ, thường hình trứng–tim, dài khoảng 1–2,5 cm, mỏng hơn và cành có nhiều rễ bám.
  • Cành sinh sản không hoặc ít có rễ bám; lá lớn và dày hơn, thường hình trứng–bầu dục đến thuôn, khoảng 5–12 × 2–5 cm, mép nguyên, gân nổi rõ thành mạng.

Cụm hoa thuộc kiểu syconium đặc trưng của chi Ficus: các hoa rất nhỏ nằm trong đế hoa lõm khép kín. Vì vậy, cấu trúc thường được gọi là “quả sung” thực chất là cụm quả giả. Syconium mọc đơn độc ở nách lá, hình quả lê đến gần cầu, khoảng 4–8 × 3–5 cm, khi chín màu vàng lục đến hơi đỏ. Hoa đực và hoa cái nằm trong các syconium khác nhau về chức năng sinh sản.

Bộ phận dùng : Các tài liệu dược liệu ghi nhận sử dụng quả, cành mang lá, lá, thân và nhựa mủ. Ở Việt Nam, quả thường được sử dụng với mục đích bổ dưỡng; cành và lá dùng trong các chứng đau nhức, phong thấp; nhựa mủ chủ yếu dùng ngoài.

Công dụng

Y học cổ truyền

Trâu cổ được dùng trong dân gian cho khá nhiều chứng bệnh. Quả và lá được xem là có tác dụng bổ, dùng trong các trường hợp đau lưng, suy giảm chức năng sinh dục nam và hỗ trợ tiết sữa; ngoài ra còn được dùng trong phong thấp, thiếu máu, tiểu ra máu, lỵ kéo dài và trĩ.

Quả dùng chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày và thông tia sữa; cành, lá dùng chữa phong thấp; nhựa mủ dùng ngoài trong một số bệnh ngoài da như mụn nhọt, ghẻ lở.

Y học hiện đại

Hóa học của F. pumila tương đối phong phú, gồm flavonoid, terpenoid/triterpenoid, steroid, coumarin và furanocoumarin, acid phenolic và các dẫn xuất phenolic, cùng nhiều hợp chất khác. Một tổng quan chuyên biệt về loài ghi nhận ít nhất 54 terpenoid và 17 steroid đã được phân lập từ các bộ phận khác nhau.

  • Flavonoid: Từ lá đã phân lập được các flavonoid/flavonoid glycoside như rutin, apigenin, luteolin, kaempferol 3-robinobioside, kaempferol 3-rutinoside và apigenin 6-neohesperidose. Đáng chú ý, rutin thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh trong các phép thử DPPH và superoxide. Một nghiên cứu tại Việt Nam công bố năm 2025 cũng phân lập các flavonoid từ F. pumila và khảo sát hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa của chế phẩm phối hợp chứa dược liệu này.
  • Terpenoid và steroid: Loài này chứa nhiều triterpenoid thuộc các khung oleanane, ursane, lupane, dammarane, lanostane và các kiểu cấu trúc khác. Đáng chú ý, nghiên cứu trên quả Trâu cổ thu tại Việt Nam đã phân lập được β-sitosterol và β-sitosterol acetat.
  • Phenolic, coumarin và các hợp chất khác: Một nghiên cứu năm 2025 trên mẫu F. pumila thu tại Lâm Đồng đã phân lập 10 hợp chất từ thân và rễ, gồm 4-hydroxybenzaldehyde, methyl 4-hydroxybenzoate, acid vanillic, acid 4-hydroxybenzoic, bergapten, ba dẫn xuất 2-(2-phenylethyl)chromone cùng hai terpenoid.

Tác dụng dược lý:

  • Chống viêm và giảm đau: Đây là một trong những tác dụng có bằng chứng tiền lâm sàng tương đối rõ. Nghiên cứu trên chuột cho thấy cao methanol F. pumila làm giảm phản ứng đau trong mô hình gây đau bằng acid acetic và formalin, đồng thời giảm phù chân gây bởi carrageenan. Cao chiết còn làm giảm các chất trung gian viêm như IL-1β, TNF-α và COX-2.
  • Chống oxy hóa: Các flavonoid của lá, đặc biệt rutin, thể hiện hoạt tính bắt giữ gốc tự do và chống oxy hóa trong các mô hình in vitro. Nghiên cứu chống viêm trên động vật cũng ghi nhận ảnh hưởng đến hệ enzym chống oxy hóa như SOD, GPx và GRd.
  • Tiềm năng hỗ trợ kiểm soát đường huyết: Nghiên cứu năm 2025 trên mẫu thân và rễ thu tại Lâm Đồng cho thấy một số hợp chất phân lập có khả năng ức chế α-glucosidase in vitro; năm hợp chất cho hoạt tính mạnh hơn acarbose trong hệ thử của nghiên cứu.
  • Các tác dụng khác: Các nghiên cứu về chi Ficus nói chung và F. pumila nói riêng còn đề cập đến hoạt tính kháng khuẩn, bảo vệ tế bào, chống tăng sinh tế bào và một số tác động chuyển hóa.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

  • Chữa đau xương, đau nhức mình mẩy: Quả Trâu cổ. Cách dùng: Quả thái nhỏ, nấu kỹ với nước, lọc bỏ bã rồi cô thành cao; dùng 5–10 g cao/ngày.
  • Chữa di tinh, dương nuy: Quả Trâu cổ 12 g, dây Sàn sạt 12 g. Cách dùng: Sắc với nước, chia uống trong ngày.
  • Chữa ít sữa, tắc tia sữa: Quả Trâu cổ 40 g, Bồ công anh 15 g, lá Mua 15 g. Cách dùng: Sắc các vị với nước, uống trong ngày; có thể phối hợp Bồ công anh dùng ngoài tại vùng sưng đau.
  • Chữa phong thấp, đau nhức xương khớp: Cành, lá Trâu cổ tươi 50–60 g hoặc khô 10–15 g. Cách dùng: Sắc với nước, chia uống trong ngày.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)