Croton hirtus L'Hér. là loài cây thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), được sử dụng trong y học dân gian tại một số khu vực nhiệt đới. Bên cạnh những kinh nghiệm sử dụng truyền thống, các nghiên cứu hiện đại đã ghi nhận ở loài này nhiều nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học, với tiềm năng kháng vi sinh, chống viêm và chống oxy hóa. Vì vậy, C. hirtus là nguồn dược liệu tự nhiên đáng quan tâm trong nghiên cứu hóa học và dược lý.

Tổng quan

Tên gọi khác: Cù đèn lông

Tên khoa học: Croton hirtus L'Hér.

Họ thực vật: Euphorbiaceae – Thầu dầu

Phân bố và sinh thái: C. hirtus có nguồn gốc ở châu Mỹ nhiệt đới, từ Mexico, Trung Mỹ và Caribe xuống phần lớn Nam Mỹ nhiệt đới. Hiện cây đã được du nhập vào nhiều vùng nhiệt đới của châu Phi và châu Á, trong đó POWO xác nhận Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và New Guinea. Cây là loài thảo một năm, chủ yếu sống trong sinh đới nhiệt đới ẩm.

Đặc điểm thực vật

C. hirtus là cây thảo một năm, thường cao khoảng 10–50 cm, đôi khi lớn hơn tùy điều kiện. Thân đứng, phân nhánh; toàn cây nổi bật bởi lớp lông hình sao cứng, ráp, trong đó thường có một tia dài hơn rõ rệt so với các tia còn lại.

Lá đơn; các lá phía dưới thường mọc so le, phía trên có thể mọc sít tạo cảm giác đối hoặc gần vòng. Cuống lá khoảng 0,3–2,5 cm, có lông cứng. Đặc điểm quan trọng là tại chỗ tiếp giáp cuống và phiến có hai tuyến hình đĩa có cuống.

Phiến lá hình trứng đến bầu dục, thường dài khoảng 2–6,5 cm, rộng 1,5–5 cm; gốc hình nêm đến tròn; đầu tù hoặc nhọn; mép có răng cưa khá thô, đôi khi răng kép. Lá thường có 5 gân xuất phát gần gốc; mặt trên có lông ráp, mặt dưới phủ lông hình sao rõ hơn.

Cụm hoa dạng chùm lưỡng tính ở đầu cành, thường dài khoảng 0,5–2,5 cm. Hoa đơn tính cùng gốc, hoa cái thường ở phần dưới và hoa đực ở phía trên cụm hoa. Hoa đực có 5 lá đài, 5 cánh nhỏ màu trắng và khoảng 8–11 nhị. Hoa cái có cánh tiêu giảm hoặc không có, bầu phủ lông hình sao, 3 vòi nhụy phân đôi.

Quả nang gần hình cầu, chia ba thùy, khoảng 3 mm; hạt hình trứng hơi dẹt, dài khoảng 2,5 mm, màu xám hoặc nâu, bề mặt có mạng nhỏ và có mồng hạt.

Bộ phận dùng: Cả cây.

Công dụng

Y học cổ truyền

Dùng trong một số chứng ngoài da như dị ứng, mẩn ngứa theo tài liệu Việt Nam cũ; dân tộc dược học Tây Phi ghi sử dụng đối với táo bón.

Y học hiện đại

Thành phần hóa học:

  • Tinh dầu: Nghiên cứu năm 2023 trên phần trên mặt đất của C. hirtus mọc hoang tại Việt Nam thu được tinh dầu với hiệu suất khoảng 0,62% và xác định được 141 hợp chất bằng GC/MS. Thành phần tinh dầu chủ yếu là sesquiterpenoid, chiếm 95,4%. Các thành phần chính gồm β-caryophyllene 32,8%; germacrene D 11,6%; β-elemene 9,1%; α-humulene 8,5%; caryophyllene oxide 5,0%. Thành phần tinh dầu có thể thay đổi theo địa lý và thời điểm thu hái; các nghiên cứu khác từng ghi nhận spathulenol, bicyclogermacrene, α-cadinol và cubenol với tỷ lệ đáng kể.
  • Các hợp chất không bay hơi: Một nghiên cứu phân tích dịch chiết methanol bằng NMR và LC-DAD-MS xác định khoảng 40 hợp chất, thuộc nhiều nhóm như flavonoid glycoside, dẫn chất hydroxycinnamic, phenylpropanoid/phenylethanoid, megastigmane, phytosterol và diterpenoid. Những thành phần nổi bật gồm β-sitosterol, isorhamnetin-3-O-rutinoside, nhiều glycoside của quercetin và kaempferol, các dẫn chất dihydro-α-ionol/dihydro-β-ionol glycoside, cùng diterpenoid kongensin D. Hai glycoside của dihydro-ionol và β-sitosterol nằm trong những thành phần định lượng cao nhất của dịch chiết methanol.
  • Ngoài ra, các nghiên cứu trước đó còn phát hiện diterpenoid mới từ rễ C. hirtus và các khảo sát sơ bộ cho thấy sự hiện diện của alkaloid, flavonoid, steroid, terpenoid và anthraquinone.

Tác dụng dược lý đã được nghiên cứu:

  • Kháng vi sinh: tinh dầu C. hirtus thu tại Việt Nam thể hiện hoạt tính kháng các chủng vi sinh vật chuẩn trong thử nghiệm in vitro, với MIC khoảng 8–16 µg/mL trong nghiên cứu năm 2023.
  • Chống viêm: dịch chiết C. hirtus làm giảm sản xuất nitric oxide do LPS kích thích và giảm biểu hiện iNOS ở đại thực bào RAW264.7. Nghiên cứu cơ chế cho thấy dịch chiết ức chế phosphoryl hóa IKK, IκB và p65, đồng thời hạn chế sự chuyển vị p65 vào nhân, gợi ý tác dụng chống viêm liên quan đến ức chế con đường NF-κB.
  • Chống oxy hóa: dịch chiết methanol thể hiện hoạt tính tốt trong các phép thử DPPH, ABTS và FRAP; kết quả phù hợp với sự hiện diện của flavonoid và các hợp chất phenolic.
  • Ức chế enzym: các dịch chiết nước, methanol, dichloromethane và ethyl acetate có khả năng ức chế ở các mức khác nhau đối với acetylcholinesterase (AChE), butyrylcholinesterase (BChE) và tyrosinase; nghiên cứu cũng khảo sát α-amylase và α-glucosidase.
  • Diệt ấu trùng muỗi: tinh dầu mẫu Việt Nam có hoạt tính đối với ấu trùng của bốn loài muỗi, với LC₅₀ sau 24 giờ khoảng 15,38–78,27 µg/mL.
  • Diệt nhuyễn thể: tinh dầu có hoạt tính mạnh đối với ốc ngoại lai Physella acuta, với LC₅₀ sau 48 giờ 10,09 µg/mL.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)