Cây Sầm (Memecylon edule Roxb.) là loài cây bụi nhỏ thuộc họ Mua (Melastomataceae) phân bố phổ biến ở các vùng đồi núi Việt Nam. Cây dễ nhận biết với cành nhẵn có mấu thắt, lá mọc đối sẫm bóng, hoa nhỏ nhiều màu mọc thành tán ở kẽ lá và quả hình cầu mang đài tồn tại. Từ lâu, lá và vỏ thân của cây đã được sử dụng trong y học cổ truyền để tiêu độc, trị sốt, sốt rét và làm thuốc đắp trị rắn cắn. Hiện nay, loài cây này ngày càng thu hút sự quan tâm của y học hiện đại nhờ chứa hoạt chất phong phú cùng nhiều thử nghiệm chứng minh tiềm năng trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe.

Tổng quan
Tên gọi khác: sầm núi, sầm bù, trâm đất
Tên khoa học: Memecylon edule Roxb.
Họ thực vật: họ Mua - Melastomataceae
Phân bố và sinh thái: Hầu khắp vùng đồi núi Việt Nam
Đặc điểm thực vật
Cây nhỏ, phân nhánh nhiều. Cành cây có dạng hình trụ nhẵn, vỏ thân và vỏ cành có màu nâu sẫm hoặc nâu đỏ, trên vỏ có rãnh dọc, tại các mấu hơi thắt lại.
Lá mọc đối, phiến lá có dạng hình bầu dục, chiều dài mỗi lá khoảng từ 3,5 đến 11cm, chiều rộng từ 1,5 đến 6cm. Gốc lá có dạng gần hình tròn, đầu lá nhọn hoặc hơi tù, mặt trên có màu sẫm bóng, gân giữa nổi rõ, cuống lá ngắn.
Cụm hoa mọc thành tán ở kẽ lá thành xim, cuống gần hình trụ hoặc hơi có cạnh, hoa có nhiều màu trắng hồng, tím hoặc xanh lam, đài hình mũ có 4 răng, tràng 4 cánh hơi dài, nhị 8.
Quả dạng hình cầu, đường kính mỗi quả khoảng 7 đến 8mm, có đài tồn tại, đầu quả hơi thắt lại.
Mùa hoa quả: tháng 7 đến tháng 1 năm sau.
Bộ phận dùng: lá, vỏ thân
Công dụng
Y học cổ truyền
Lá có vị chát, đắng, có tác dụng tiêu độc.
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Cây Sầm chứa nhiều hợp chất phenolic, flavonoid, glycoside, triterpenoid, steroid, saponin, chất nhầy và carotenoid trong rễ, lá và hạt cây. Rễ cây chứa lượng lớn carotenoid (dịch chiết cồn đạt 43,12 µg/g; dịch chiết nước đạt 23,12 µg/g). Từ lá đã phân lập được hợp chất phenolic như 2-butanone 4-glucopyranoside 6′-O-gallate cùng các polyphenol như 3,3′-di-O-methylellagic acid 4-O-β-D-glucopyranoside, epigallocatechin-3-O-gallate (EGCG), (2R,3R)-dihydromyricetin-4′-β-D-glucopyranoside và myricetin-3-O-α-L-rhamnopyranoside. Thành phần nổi bật là triterpenoid 3β-hydroxyurs-12-en-28-oic acid (ursolic acid) có độ tinh khiết cao được phân lập từ lá. Ngoài ra còn có thujone, β-sitosterol, hexadecanoic acid, cedran-diol và nhiều glycoside thơm như benzyl-(6-O-α-L-arabinofuranosyl)-O-β-D-glucopyranoside, benzyl-(6-O-α-L-rhamnopyranosyl)-O-β-D-glucopyranoside, 2-phenylethyl-(6-O-β-D-apiofuranosyl)-O-β-D-glucopyranoside và methyl benzoate 2-(6-O-α-L-rhamnosyl)-O-β-D-glucopyranoside.
Các đặc tính sinh học của cây Sầm đã được chứng minh qua nhiều thử nghiệm in vitro và in vivo:
- Kháng khuẩn: hợp chất ursolic acid tinh khiết phân lập từ lá thể hiện hoạt tính ức chế mạnh đối với các vi khuẩn gây bệnh ở người, đặc biệt là Staphylococcus epidermidis và Staphylococcus pneumoniae với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) lần lượt là 1,56 µg/mL và 3,15 µg/mL. Dịch chiết chloroform từ hạt cũng cho hoạt tính kháng khuẩn tốt, mạnh nhất trên Bacillus subtilis (vòng vô khuẩn 15 mm), trong khi phân đoạn ethyl acetate thể hiện tác dụng trung bình trên Yersinia enterocolitica và Vibrio cholerae (10 mm). Phân đoạn ethyl acetate từ lá (thu hái tại vùng địa nhiệt) có khả năng ức chế mạnh dạng vi khuẩn sống tự do và ngăn chặn khoảng 50% sự hình thành màng sinh học của Pseudomonas aeruginosa ở nồng độ 10 mg/mL
- Hạ đường huyết, chống béo phì và cải thiện kháng insulin: Dịch chiết cồn từ lá Sầm khi dùng đường uống làm giảm đáng kể nồng độ glucose huyết thanh ở cả chuột bình thường và chuột gây đái tháo đường bằng alloxan. Trên mô hình chuột béo phì do chế độ ăn giàu chất béo kéo dài 10 tuần, việc sử dụng dịch chiết methanol (250 mg/kg thể trọng/ngày trong 8 tuần) giúp làm giảm rõ rệt glucose huyết lúc đói, giảm trọng lượng cơ thể và hạ triglyceride huyết thanh. Dịch chiết làm giảm nồng độ IL-6 và ox-LDL trong huyết thanh, đồng thời phục hồi cấu trúc mô học của gan và mô mỡ dưới da. Phân tích biểu hiện gen cho thấy dịch chiết làm giảm biểu hiện các gen liên quan đến viêm và rối loạn chuyển hóa như IL6, PAI1 và ApoB, qua đó cải thiện tình trạng kháng insulin.
- Hạ cholesterol máu (chống tăng lipid máu): Trên mô hình chuột gây tăng cholesterol bằng chế độ ăn chứa 1% cholesterol, dịch chiết ethanol từ cây Sầm (100 và 200 mg/kg) giúp cải thiện đáng kể các chỉ số lipid máu: giảm cholesterol toàn phần, VLDL, LDL và tăng HDL huyết thanh. Dịch chiết còn làm giảm nồng độ malondialdehyde (MDA) trong mô gan, góp phần bảo vệ tế bào gan khỏi tổn thương do quá trình peroxide hóa lipid.
- Chống viêm và giảm đau: Kích thích cytokine kháng viêm: Thử nghiệm in vitro cho thấy phân đoạn ethyl acetate từ lá có khả năng kích thích sản sinh interleukin-10 (IL-10) mạnh nhất. Trên mô hình gây phù tai chuột bằng ethyl phenylpropiolate (EPP), phân đoạn ethyl acetate dùng tại chỗ (0,5; 1,0; 2,0 mg/tai) làm giảm phù rõ rệt sau 30 phút. Sau 4 giờ, liều 1,0 mg/tai đạt mức ức chế viêm 47,8%, gần tương đương indomethacin (62,4%). Trong thử nghiệm gây đau quặn bằng acid acetic, liều uống 200 mg/kg của phân đoạn này ức chế 56,6% số cơn đau, tương đương indomethacin 10 mg/kg.
- Chống oxy hóa: Dịch chiết từ cây Sầm thể hiện khả năng chống oxy hóa mạnh thông qua nhiều cơ chế như bắt giữ gốc tự do và khử ion kim loại. Đối với rễ: Dịch chiết ethanol và nước chứa hàm lượng phenolic tổng tương ứng 94 và 20,64 mg GAE/g; flavonoid tổng tương ứng 21,56 và 5,95 mg QE/g. Giá trị IC₅₀ đối với gốc tự do DPPH của dịch chiết ethanol đạt 77,5 µg/mL (acid ascorbic: 61 µg/mL); giá trị chống gốc superoxide đạt 894 µg/mL và EC₅₀ năng lực khử đạt 74 µg/mL. Đối với lá: Cả dịch chiết nước và cồn đều có khả năng loại bỏ gốc superoxide, hydroxyl, nitric oxide và ức chế peroxide hóa lipid. Dịch chiết nước cho hoạt tính mạnh hơn dịch chiết cồn, với IC₅₀ lần lượt là 502,9 µg/mL (superoxide), 493,78 µg/mL (hydroxyl), 469,6 µg/mL (peroxide hóa lipid) và 227,8 µg/mL (nitric oxide). Trong thử nghiệm DPPH, khả năng quét gốc tự do tăng dần theo thứ tự: phân đoạn EtOAc (IC₅₀ = 1742,2 µg/mL) < phân đoạn methanol 50% (152,1 µg/mL) < phân đoạn methanol nguyên chất (46,9 µg/mL).
- Kháng tế bào ung thư (chống tăng sinh tế bào): Hợp chất ursolic acid phân lập từ lá cây Sầm thể hiện hoạt tính gây độc và chống tăng sinh mạnh trên hai dòng tế bào ung thư người là U-937 và HL-60, với giá trị IC₅₀ thấp hơn đáng kể so với thujone. Nghiên cứu docking phân tử cho thấy ursolic acid có khả năng gắn mạnh vào vùng hoạt động ATPase của enzyme topoisomerase II với điểm docking –8,0312 và năng lượng liên kết GLIDE –51,86 kcal/mol cho thấy tiềm năng phát triển thành hoạt chất hỗ trợ điều trị ung thư.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Sốt, Sốt rét: Vỏ cây Sầm phơi khô 6-12g sắc uống.
Rắn cắn: Lá Sầm tươi giã, thêm nước, gạn uống, lấy bã đắp.
Ðau mắt: Lá khô hãm lấy nước dùng rửa.














.png)