Cỏ lào (Chromolaena odorata (L.) R.M.King & H.Rob.) là loài thực vật thuộc họ Cúc (Asteraceae) có nguồn gốc từ châu Mỹ, phân bố rộng rãi ở nhiều vùng trong đó có Việt Nam. Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, cây được sử dụng phổ biến với tác dụng cầm máu, chống viêm, sát khuẩn và hỗ trợ điều trị các bệnh lý đường tiêu hóa, ngoài da. Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu hiện đại đã ghi nhận cỏ lào chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như flavonoid, phenolic và alkaloid, đồng thời cho thấy các công dụng tiềm năng đáng chú ý của cây, làm sáng tỏ thêm cơ sở khoa học cho việc sử dụng loài cây này trong dân gian. 

Tổng quan

Tên gọi khác: Yến bạch, Cộng sản, Bớp bớp 

Tên khoa học: Chromolaena odorata (L.) R.M.King & H.Rob. 

Họ thực vật: họ Cúc - Asteraceae

Phân bố và sinh thái:  có nguồn gốc từ Bắc Mỹ , được phát hiện ở nhiều nơi như Pháp; Thái Lan, Trung Quốc và Đông Dương Tại Việt Nam, Cỏ lào được tìm thấy ở khắp nơi, nhiều nhất ở các vùng đồi núi. 

Đặc điểm thực vật

Cây thân thảo lâu năm, có thể cao tới 3m, có tán tới 7m. 

Thân phân nhánh nhiều, thân thảo khi còn non, dai và bán thân gỗ khi già, hình trụ, có vân mịn, màu vàng nhạt, ít lông hoặc gần như bóng; cành hơi khía dọc, mọc đối. Cây có lông, có tuyến. 

Lá đơn mọc đối, hình tam giác đến hình elip, có lông tơ, mép có răng cưa. Lá dài 4-10cm, rộng 1-5cm, khi vò nát có mùi thơm, hắc. Cuống lá dài 1-4 cm. Lá có màu tía khi còn non, sau chuyển sang xanh lục, có ba đường gân chính rõ.

Các hoa hình ống màu trắng đến hồng nhạt nằm trong các chùy có từ 10 đến 35 hoa xếp thành các cụm hình trứng mọc ở nách các lá phía trên; cuống dài 1-2cm; lá bắc hình trụ không đều, 8-10 mm x 3-4 mm, lá bắc xếp thành 5 hoặc 6 hàng, xếp khít nhau, hình thuôn dài, kích thước tăng dần lên trên, màu vàng rơm đến xanh lục; tràng hoa hình ống, dài 5 mm, 5 thùy. 

Quả: quả trám hẹp, hình thẳng, có góc cạnh, dài 3 - 5 mm, màu nâu hoặc đen, có lông ngắn, màu trắng, cứng dọc theo mép. 

Hạt màu sẫm dài 4-5 mm, hẹp và thuôn, với một chùm lông trắng hình dù sau đó chuyển sang màu nâu khi hạt khô.

Bộ phận dùng: Toàn cây, chủ yếu là lá, thường dùng tươi

Công dụng

Y học cổ truyền

Cỏ lào có tính hơi ấm, vị cay, có tác dụng sát trùng, cầm máu, chống viêm. nước sắc Cỏ lào có tác dụng kháng khuẩn, ngăn chặn vi khuẩn gây mủ ở vết thương và trực khuẩn lỵ Shigella.

Trong đông y, cây Cỏ lào được dùng trong cầm máu vết thương, trị bệnh lỵ cấp tính, tiêu chảy ở trẻ em, viêm đại tràng, đau nhức xương, viêm răng lợi, chữa ghẻ lở, nhọt độc.

Y học hiện đại

Thành phần hóa học: Cỏ lào (Chromolaena odorata) chứa nhiều hợp chất sinh học có hoạt tính như alkaloid,  flavonoid, hợp chất phenolic, saponin, steroid và tannin trong lá tươi và lá khô. Ngoài ra, cây còn chứa hàm lượng protein, chất xơ và khoáng đáng kể như Ca, K, Na, Mg, Fe, Zn, Cu, Mn và P.  Tinh dầu của Cỏ lào có chứa các thành phần như: α – pinen, β-caryophyllen, β – pinen, β-cubeben, Geijeren, δ-cadinen, α-cadinol, δ-cadinol, α-humulen… 

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các công dụng của cây cỏ lào:

  • Chống oxy hóa: cao chiết lá cỏ lào chứa flavonoid và phenolic có khả năng trung hòa các gốc tự do ROS, hỗ trợ hệ chống oxy hóa nội sinh và làm giảm oxy hóa. Tác dụng được ghi nhận qua các thử nghiệm chống oxy hóa in vitro như DPPH và các mô hình đánh giá hoạt tính antioxidant.
  • Kháng khuẩn: cao chiết lá có khả năng ức chế sự phát triển của nhiều vi khuẩn gây bệnh như Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, Escherichia coli và các chủng kháng thuốc MRSA bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch in vitro.
  • Cầm máu và làm lành vết thương: dịch chiết thô từ lá có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu và hỗ trợ cầm máu trên vết thương tươi, góp phần thúc đẩy quá trình tái tạo mô và lành thương
  • Chống viêm: hoạt tính ức chế NF-κB nhờ chứa một số acid béo, trong đó (S)-coriolic acid methyl ester thể hiện hoạt tính mạnh nhất với với giá trị IC50 bằng 5,73 µM
  • Hỗ trợ chống ung thư: có tác dụng gây độc (tiêu diệt) các tế bào ung thư WiDr, HTB và 4T1 trên mô hình in vitro

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

  • Bài thuốc chữa bệnh tiêu chảy và lỵ trực trùng:  Sắc lấy nước uống với cỏ lào (12g), pha thêm đường, rồi uống 3 lần trong ngày. 
  • Bài thuốc trị tiêu chảy, viêm nhiễm đường ruột:  Đem hãm nước sôi 150g lá cỏ lào tươi hoặc với lượng là 50g nếu sử dụng lá khô. Sau đó, dùng uống hàng ngày. 
  • Bài thuốc trị viêm đại tràng: sử dụng cỏ lào (20g), bạch truật (25g) cùng khô sâm (10g). Sắc lấy nước và dùng để uống.
  • Bài thuốc trị táo bón: Sử dụng từ 3 đến 5 ngọn cây cỏ lào đã được rửa sạch. Đem nhai kỹ cùng một ít muối, rồi nuốt cả nước và bã.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)