Tra làm chiếu (Hibiscus tiliaceus L.) còn được biết đến với tên gọi bụp tra hay hữu nạp, là loài cây gỗ hoặc cây bụi thuộc họ Bông (Malvaceae), mọc phổ biến tại các vùng ven biển, ven sông và bãi sú vẹt nước mặn ở Việt Nam. Trong y học cổ truyền, rễ và lá của cây từ lâu đã được nhân dân ứng dụng trong các bài thuốc điều trị tê thấp, đau lưng,...Trong y học hiện đại, loài cây này hiện đã được chứng minh nhiều tác dụng dược lý, qua đó làm sáng tỏ cơ chế tác dụng dựa trên công dụng y học cổ truyền

Tổng quan
Tên gọi khác: Bụp tra, Hữu nạp
Tên khoa học: Hibiscus tiliaceus L.
Họ thực vật: họ Bông - Malvaceae
Phân bố và sinh thái: cây có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Philippin, Inđonesia. Ở nước ta, cây mọc phổ biến ở vùng ven biển, ven sông ở các bãi sú vẹt nước mặn.
Đặc điểm thực vật
Cây gỗ hay cây bụi.
Lá hình mắt chim, dạng tim, có tai dính hay hơi lợp lên nhau, thon nhọn đột ngột thành mũi ở đầu, nhẵn ở mặt trên, mềm và trắng ở dưới, đường kính tới 12cm với 5 gân chính.
Hoa vàng, đơn độc ở nách các lá tiêu giảm, xếp thành chùm 2-5 cái.
Quả hình cầu, dẹp và có gai nhọn ở đầu, có lông tơ cứng và vàng.
Hạt nhẵn, hình thận, hơi có vạch.
Mùa hoa quả: tháng 6-9
Bộ phận dùng: rễ, lá
Công dụng
Y học cổ truyền
Tê thấp, đau lưng, sốt (Lá sắc uống). Nhuận tràng, gây nôn (Rễ, lá sắc uống).
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Tại lá và vỏ cây, hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số phụ thuộc vào dung môi chiết. Phân đoạn chiết ethanol 45% từ lá cho hàm lượng polyphenol đạt 31.67 mg GAE/g và flavonoid đạt 15.64 mg QE/g, dịch chiết nước lần lượt là 27.67 mg GAE/g và 11.01 mg QE/g. Một số flavonoid từ lá có bao gồm astragalin, isoquercitrin, rutin, trans-tiliroside và kaempferol 3-O-rutinoside. Ngoài ra, hai dẫn xuất megastigmane là methyl-tiliaceate A và methyl-tiliaceate B cùng cấu trúc megastigmane tiliaceic acid A đã được phân lập từ lá của loài này tại Việt Nam. Vỏ cây chứa alcaloid, đường khử và tannin. Tại thân, cành và rễ, phân đoạn chiết methanol từ thân và cành non phân lập được 5 sesquiterpene loại cadinene gồm hibiscusterpenes I–V, hibiscone C và syriacusin A. Vỏ thân chứa triterpene loại friedelane là 27-oic-3-oxo-28-friedelanoic acid cùng 5 dẫn xuất friedelane khác. Khi chiết xuất bằng dung môi dichloromethane từ lá, hợp chất triterpene friedelin được xác định là thành phần chính. Phân tích GC-MS dịch chiết rễ và các bộ phận khác còn cho thấy sự xuất hiện của các hydrocarbon mạch thẳng từ 25 đến 33 nguyên tử carbon, các ester, acid béo phân tử lượng lớn và các cấu trúc phytosterol.
Hiện nay, các tài liệu nghiên cứu khoa học về tác dụng dược lý của cây tra làm chiếu rất đa dạng phong phú trên cả in vitro và in vivo:
- Kháng khuẩn: Dịch chiết Hibiscus tiliaceus thể hiện hoạt tính kháng khuẩn trên các chủng vi khuẩn Gram dương gây nhiễm trùng vết thương. Thử nghiệm xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) cho thấy các chủng Bacillus cereus, Staphylococcus aureus nhạy cảm với methicillin (MSSA), và Staphylococcus epidermidis bị ức chế mạnh với giá trị MIC dao động từ 2 đến 512 µg/mL. Một nghiên cứu khác chỉ ra hợp chất methyl-tiliaceate A chiết từ lá có khả năng ức chế chọn lọc đối với chủng B. cereus.
- Kháng ung thư, gây độc tế bào: thông qua cơ chế kích hoạt chu trình chết tế bào (apoptosis), thử nghiệm độc tế bào sàng lọc bằng tôm biển (Brine shrimp lethality assay) cho thấy dịch chiết lá có độc tính trung bình với giá trị LC₅₀ là 20 µg/mL và LC₉₀ là 40 µg/mL, dịch chiết vỏ thân có độc tính thấp hơn (LC₅₀: 50 µg/mL). Trên dòng tế bào ung thư vú người (MCF-7), phân đoạn chiết hexane và ethyl acetate từ lá thể hiện hoạt tính độc tế bào mạnh thông qua nhuộm Annexin-V/PI và DAPI, kích hoạt cả quá trình apoptosis giai đoạn đầu và muộn. Trên dòng tế bào ung thư cổ tử cung (HeLa), các hợp chất hibiscone C và syriacusin A (phân lập từ thân/cành) được chứng minh là các tác nhân gây chết tế bào trực tiếp qua ghi hình tế bào tua nhanh (time-lapse imaging). Dịch chiết rễ Hibiscus tiliaceus liều cao trên chuột bạch Swiss bị u bạch huyết cổ trướng Dalton (DAL) đã kéo dài đáng kể thời gian sống trung bình (MST), gia tăng số lượng tế bào phúc mạc, ức chế sự phát triển của tế bào u và đảo ngược các chỉ số huyết học, hàm lượng protein tổng số cũng như thể tích khối tế bào về mức bình thường sau 14 ngày điều trị. Đáng chú ý, ở nồng độ không gây độc (0.001 đến 0.1 mg/mL), dịch chiết methanol từ hoa (HME) kiểm nghiệm trên tế bào v79 không hề gây đột biến hay độc tính di truyền mà nó hoạt động như một chất bảo vệ DNA, làm tăng tỷ lệ sống sót của tế bào trước stress oxy hóa do H₂O₂ và tert-butyl-hydroperoxide (t-BHP) gây ra, giảm chỉ số tổn thương đuôi comet và tần suất xuất hiện nhân nhỏ (micronucleus). Tuy nhiên, cần lưu ý dịch chiết ethanol từ lá ở liều 250–500 mg/kg/ngày trên chuột cống lại làm giảm chỉ số phân bào ở tế bào tủy xương và lách, đồng thời làm tăng sự xuất hiện của nhân nhỏ khi so sánh với nhóm chứng, chứng tỏ độc tính phụ thuộc liều lượng trên cơ quan tạo máu khi dùng dài ngày.
- Chống oxy hóa: Dịch chiết hoa và lá của Tra làm chiếu thể hiện khả năng quét gốc tự do (DPPH, •OH, O₂•⁻, H₂O₂) và ức chế sản sinh Nitric Oxide (NO) phụ thuộc vào nồng độ, tương đương với các chất đối chứng chuẩn như BHA, α-tocopherol và acid ascorbic. Phân đoạn chiết ethanol 45% của lá có hoạt tính chống oxy hóa vượt trội với giá trị IC₅₀ đạt 5.75 µg/mL so với dịch chiết nước (IC₅₀: 21.05 µg/mL).
- Bảo vệ gan: Trên mô hình chuột cống trắng Wistar bị gây bạt sừng/ung thư biểu mô tế bào gan bằng Diethylnitrosamine (DEN), việc cho uống dự phòng dịch chiết ethanol từ lá với hai mức liều 250 mg/kg và 500 mg/kg liên tục trong 20 tuần mang lại hiệu quả bảo vệ gan. Kết quả ghi nhận sự giảm rõ rệt nồng độ Malondialdehyde, Alpha-fetoprotein, các enzyme gan (ALT, AST, TSB) và các cytokine gây viêm (TGF-β, TNF-α). Đồng thời, hàm lượng enzyme Superoxide Dismutase (SOD) trong mô gan được phục hồi và tăng lên đáng kể phụ thuộc liều.
- Chống béo phì: Nghiên cứu trên mô hình chuột cống đực bị gây béo phì bằng chế độ ăn giàu chất béo trong 8 tuần cho thấy sử dụng dịch chiết ethanol lá Tra làm chiếu (liều 250 mg/kg và 500 mg/kg), dùng độc lập hoặc kết hợp với thuốc hạ mỡ máu Orlistat (Xenical, liều 10 mg/kg) giúp giảm đáng kể trọng lượng cơ thể, lượng thức ăn tiêu thụ, nồng độ Triglyceride, Cholesterol toàn phần, LDL-Cholesterol huyết thanh cũng như các enzyme hủy hoại tế bào gan (AST, ALT).
- Hạ đường huyết: dịch chiết ethanol 45% từ lá thể hiện hoạt tính ức chế mạnh enzyme α-glucosidase in vitro với giá trị IC₅₀ thấp 2.69 µg/mL (cao hơn hẳn so với dịch chiết nước là 7.71 µg/mL). Một hợp chất phân lập từ cấu trúc megastigmane của loài này tại Việt Nam cũng cho thấy hoạt tính ức chế α-glucosidase mạnh với giá trị IC₅₀ đạt 77.78 µg/mL (mạnh hơn chất đối chứng dương acarbose với IC₅₀: 105.71 µg/mL). Trên chuột nhắt bị gây tiểu đường bằng Streptozotocin (STZ), liều uống 1.33 g/kg dịch chiết ethanol 45% trong 14 ngày giúp hạ glucose máu lúc đói rõ rệt, cải thiện dung nạp glucose, giảm chỉ số stress oxy hóa MDA ở thận, đồng thời làm tăng nồng độ glutathione (GSH) nội sinh
- Điều hòa miễn dịch: Nghiên cứu sử dụng dịch chiết methanol từ lá (MLHT) ở các liều 250 mg/kg/ngày và 500 mg/kg/ngày trên mô hình chuột cống Wistar bị suy giảm miễn dịch do Pyrogallol trong 28 ngày cho thấy hoạt tính điều hòa miễn dịch mạnh trên cả hệ miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. MLHT làm tăng đáng kể hiệu giá kháng thể ngưng kết hồng cầu đáp ứng với hồng cầu cừu (SRBCs), tăng cường phản ứng quá mẫn muộn thông qua chỉ số độ dày lòng bàn chân chuột, tăng tỷ lệ bám dính của bạch cầu trung tính vào sợi nylon và kích thích hoạt tính thực bào (phép thử xóa carbon). Ngoài ra, dịch chiết còn thúc đẩy quá trình sản sinh hồng cầu, bạch cầu và nồng độ Hemoglobin trong máu ngoại vi mà không làm thay đổi các thông số sinh hóa khác, tương đương với biệt dược chuẩn Septilin.
- Giảm đau, kháng viêm: dịch chiết lá thể hiện hoạt tính giảm đau (giảm số cơn quặn đau do tác dụng của acid acetic trên chuột nhắt) mạnh hơn so với dịch chiết vỏ thân theo thứ tự: dịch chiết methanol > chloroform > petroleum ether. Ở mức liều 250 và 500 mg/kg đường uống, các dịch chiết này ức chế hiệu quả tình trạng phù nề bàn chân chuột do tiêm Carrageenan ở giờ thứ 2 và thứ 3, đồng thời kéo dài thời gian chịu đựng kích thích nhiệt trong thử nghiệm mâm nhiệt và nhúng đuôi.
- Hỗ trợ điều trị bệnh hồng cầu liềm: Nghiên cứu sinh học phân tử đã chứng minh cơ chế phối hợp của các hợp chất trong dịch chiết nước từ lá. Trong đó, kaempferol 3-O-rutinoside thể hiện hoạt tính chống biến dạng hồng cầu liềm vượt trội, giúp bình thường hóa cấu trúc màng hồng cầu bị liềm hóa do thiếu oxy với giá trị IC₅₀ < 12.5 µg/mL. Đồng thời, rutin hoạt động như một chất chống oxy hóa và kháng viêm mạnh mẽ với giá trị IC₅₀ lần lượt là 5 µg/mL và 2.5 µg/mL, giúp trung hòa các gốc tự do giải phóng từ quá trình tan máu sớm, từ đó cắt đứt chuỗi phản ứng viêm hệ thống trong lòng mạch của bệnh nhân SCD.
- An thần: Dịch chiết lá và vỏ cây làm giảm cả thời gian khởi phát giấc ngủ và tổng thời gian ngủ trong thử nghiệm gây ngủ bằng phenobarbital.
- Chống trầm cảm: nghiên cứu hành vi trên chuột nhắt Swiss cho thấy dịch chiết methanol từ hoa làm giảm đáng kể thời gian bất động trong hai mô hình dự đoán trầm cảm là thử nghiệm bơi cưỡng bức và thử nghiệm treo đuôi. Hoạt tính chống trầm cảm này rất tiềm năng vì nó không đi kèm tác dụng phụ gây an thần hay làm tăng tác dụng gây ngủ của ketamine (không làm thay đổi thời gian ngủ do ketamine).
- Chống huyết khối: bằng phương pháp tiêu cục máu đông, khi cục máu đông được xử lý bằng phân đoạn chiết petroleum ether từ lá, tỷ lệ ly giải cục máu đông đạt tới 34.10 ± 8.436%, cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng âm dùng nước cất (7.983 ± 2.197%) và dịch chiết methanol (14.41 ± 5.276%). Phân tích GC-MS chứng minh hoạt tính làm tan huyết khối này có liên quan trực tiếp đến nhóm phytosterol có trong phân đoạn không phân cực của cây.
- Ức chế sắc tố và làm trắng da: dịch chiết dichloromethane từ lá (DE) của Hibiscus tiliaceus cho thấy khả năng ức chế enzyme tyrosinase mạnh với hoạt tính ức chế tyrosinase 82.18 ± 4.51% ở nồng độ thấp 0.25 µg/mL. Khi thử nghiệm trên tế bào hắc tố ung thư da B16F1, phân đoạn này ức chế quá trình tổng hợp hắc tố nội bào và ngoại bào lần lượt là 58.42 ± 0.31% và 46.65 ± 0.85%. Chất triterpene friedelin được xác định là thành phần chính chịu trách nhiệm cho hoạt tính này. Mô hình docking phân tử cho thấy friedelin liên kết trực tiếp vào vị trí dị lập thể của enzyme tyrosinase.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Ở Trung Quốc, cây được dùng trị ung sang thũng độc và ăn sắn trúng độc.
Ở miền Nam nước ta, lá được dùng làm thuốc nhuận tràng và tan sưng; bột rễ với liều 3g được dùng để gây nôn.
Ở Philippin, nước sắc lá được dùng để rửa các vết thương rò, mụn mủ, bướu, bệnh về tóc, đau tai; còn dùng chữa bệnh về cơ quan tiết niệu, bệnh lao phổi, đau ngực, ho, đau dạ dày, đau ruột.














.png)