Đậu bắp (Abelmoschus esculentus (L.) Moench) hay còn gọi là mướp tây là loài cây thân thảo hằng năm thuộc họ Bông (Malvaceae), được trồng vô cùng rộng rãi tại miền Nam Việt Nam để làm thực phẩm. Theo y học cổ truyền, quả, hạt và lá đậu bắp là những vị thuốc có tác dụng lợi tiểu và làm dịu niêm mạc. Theo y học hiện đại, loài cây này hiện nay có những tác dụng dược lý tiềm năng trên các bệnh chuyển hóa và ung thư.

Tổng quan
Tên gọi khác: mướp tây
Tên khoa học: Abelmoschus esculentus (L.) Moench
Họ thực vật: họ Bông - Malvaceae
Phân bố và sinh thái: cây có ở Ấn Độ, Tây Phi, Braxin, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Indonexia, Papua New Guinea. Tại Việt Nam, cây chủ yếu được trồng ở miền Nam
Đặc điểm thực vật
Cây thân thảo giả hóa gỗ, hằng năm, mọc thẳng, phân nhánh nhiều, cao tới 3m. Thân tròn, có lông cứng, nhám và thường có đốm đỏ.
Lá đơn, mọc xen kẽ, hình dáng đa dạng. Cuống lá dài 10–50 cm (có đốm đỏ và nhiều lông). Phiến lá rộng tới 50 cm, xẻ sâu 5–7 thùy, mép răng cưa, gân lá kiểu chân vịt.
Hoa: Mọc riêng lẻ ở nách lá, hoa to, đều, lưỡng tính, mẫu 5, có đài chính (5 lá đài màu xanh, dính nhau ở đáy, tiền khai van) và đài phụ bên ngoài.5 cánh hoa tiền khai vặn. Nhiều nhị dính nhau thành ống chỉ nhị màu trắng, nhẵn, dài tới 2,5 cm. Bầu nhụy trên, có lông tơ, gồm 5 lá noãn tạo thành bầu 5 ô, đính noãn trung trụ.
Quả nang, dáng dài, thẳng hoặc cong; quả non màu xanh, quả già màu nâu, có 5 lằn dọc và nhiều lông; khi chín nứt theo đường hàn mép lá noãn.
Hạt hình cầu hay hình trứng, đường kính 3-6mm
Bộ phận dùng: rễ, lá, quả, hạt
Công dụng
Y học cổ truyền
Quả, hạt, lá có tác dụng lợi tiểu, dịch lá tươi dùng điều trị tăng tiết bã nhờn của da đầu và dùng đắp nhọt biến
Y học hiện đại
Hàm lượng hoạt chất sinh học cùng giá trị dinh dưỡng của đậu bắp có sự khác nhau giữa các bộ phận của cây. Một số hợp chất đã phân lập được từ cây:
- Axit phenolic: Rosmarinic acid, Chlorogenic acid, Caffeic acid, Gallic acid,...
- Flavonoid. Các chất điển hình gồm Isoquercitrin (Quercetin 3-O-glucoside), Hyperin, Rutin, Myricetin và các anthocyanin tạo màu ở vỏ quả đỏ (Cyanidin 3-glucoside, Cyanidin 3-sambubioside, Delphinidin 3-O-sambubioside).
- Terpenoid: monoterpene (limonene, α-pinene, camphor, menthol), sesquiterpene (abscisic acid, β-caryophyllene) đến triterpene (lupeol, ursolic acid) và tetraterpene (β-carotene, lycopene, zeaxanthin).
- Vitamin: vitamin A, B1, B2, B3, B5, B6, B7, B9, B12, C, D3, E và K3.
- Polysaccharide và Chất nhầy: Rhamnogalacturonan, Pectin hòa tan trong axit và chất nhầy mucilage biopolymer
- Alkaloid: esculentoside
Nghiên cứu về các tác dụng dược lý của đậu bắp cho đến nay rất phong phú đa dạng:
- Chống béo phì: trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược kéo dài 12 tuần trên 108 người thừa cân và béo phì (BMI 25–35 kg/m²), người tham gia được sử dụng chế phẩm IQP-AE-103 là sự phối hợp giữa bột quả đậu bắp sấy khô và inulin với hai mức liều khác nhau kết hợp chế độ ăn giảm năng lượng. Kết quả cho thấy nhóm dùng liều cao giảm cân đáng kể (5,03 ± 2,50 kg) cao hơn so với nhóm liều thấp (3,01 ± 2,19 kg) và nhóm giả dược (0,98 ± 2,06 kg). Bên cạnh đó, 66% đối tượng ở nhóm liều cao ghi nhận sự giảm cảm giác thèm ăn theo thang điểm đánh giá trực quan, đồng thời các chỉ số lipid máu như cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol và triglycerid đều được cải thiện rõ rệt so với nhóm chứng. Đáng chú ý, không ghi nhận bất kỳ tác dụng không mong muốn đáng kể nào trong suốt thời gian nghiên cứu.
- Chống đái tháo đường: cơ chế được xác định là ức chế enzym tiêu hóa carbohydrate, cải thiện chức năng tế bào β tuyến tụy và điều hòa các con đường chuyển hóa glucose. Các nghiên cứu in vitro cho thấy dịch chiết từ vỏ, hạt và quả đậu bắp có khả năng ức chế α-glucosidase và α-amylase, qua đó làm chậm quá trình tiêu hóa tinh bột và hấp thu glucose; trong đó dịch chiết methanol từ quả thể hiện hiệu quả cao nhất với tỷ lệ ức chế trên 90%, còn chất nhầy mucilage cho tác dụng phụ thuộc nồng độ. Trên các mô hình chuột đái tháo đường gây bởi streptozotocin hoặc alloxan, việc sử dụng bột vỏ hoặc hạt đậu bắp giúp đưa đường huyết từ mức tăng cao trở về gần bình thường, đồng thời làm giảm HbA1c, cải thiện chức năng gan, tăng hemoglobin và protein huyết thanh, điều hòa các rối loạn lipid máu. Ở mức độ phân tử, đậu bắp làm giảm biểu hiện PPAR-γ và PPAR-α, cải thiện tình trạng kháng insulin và phục hồi cấu trúc mô học của đảo tụy với sự gia tăng khối lượng tế bào β. Bên cạnh đó, các polysaccharide phân lập từ đậu bắp như rhamnogalacturonan và polysaccharide OP còn giúp tăng dung nạp glucose, bảo vệ gan thông qua hoạt hóa con đường PI3K/AKT/GSK3β–Nrf2, làm tăng dự trữ glycogen, giảm xơ hóa và thúc đẩy tái tạo mô gan. Đáng chú ý, mặc dù các phương pháp chế biến nhiệt như luộc hoặc rang làm giảm hàm lượng polyphenol và khả năng chống oxy hóa in vitro, chúng không làm suy giảm hoạt tính chống đái tháo đường của quả và hạt đậu bắp. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc sử dụng đậu bắp đồng thời với các thuốc điều trị đái tháo đường như metformin hoặc acarbose có thể làm giảm hiệu quả kiểm soát đường huyết của thuốc, nhiều khả năng do lượng chất xơ hòa tan cao trong đậu bắp cản trở quá trình hấp thu thuốc tại đường tiêu hóa, vì vậy không nên dùng đậu bắp cùng thời điểm với các thuốc hạ đường huyết đường uống.
- Chống oxy hóa: Dịch chiết methanol từ hạt và thịt quả có khả năng dọn dẹp các gốc tự do DPPH và ABTS với hiệu suất trên 50% với giá trị IC₅₀ đối với gốc DPPH của hạt và thịt quả lần lượt là 44,1 mg/mL và 55,73 mg/mL. Ngoài ra, dịch chiết methanol từ hạt còn có hoạt tính tạo phức với ion sắt Fe²⁺ đạt 77,60% ở nồng độ 1,0 mg/mL, tiệm cận với chất đối chứng BHT (84,20%).
- Kháng khuẩn: dịch chiết nước thịt quả đậu bắp cho hoạt tính kháng khuẩn trên nhiều chủng vi khuẩn bao gồm Micrococcus luteus, Bacillus subtilis, Bacillus cereus, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Proteus vulgaris, Klebsiella pneumoniae và Shigella sonnei
- Chống ung thư: ức chế tăng sinh tế bào, gây ngừng chu kỳ tế bào, kích hoạt quá trình chết theo chương trình và điều hòa biểu hiện gen. Các hạt nano vàng (AuNPs) tổng hợp từ đậu bắp làm giảm tỷ lệ sống của tế bào ung thư bạch cầu tủy cấp dòng Jurkat tới 87,2% ở nồng độ 50 µg/mL, ức chế sự phát triển của các dòng tế bào K562 và lymphoma Dalton (DL). Hạt nano bạc (AgNPs) từ hoa đậu bắp có độc tính tế bào mạnh trên dòng ung thư phổi A-549 và ung thư trung mô TERT-4 với giá trị IC₅₀ lần lượt là 1,74 và 1,65 µg/ml. Bên cạnh đó, polysaccharide thô từ đậu bắp có khả năng ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư gan Huh7it, thúc đẩy quá trình apoptosis và gây ngừng chu kỳ tế bào ở pha G0/G1. Lectin phân lập từ đậu bắp cũng cho hoạt tính chống ung thư trên dòng tế bào u nguyên bào thần kinh đệm U87 với IC₅₀ khoảng 21 µg/mL thông qua cơ chế làm tăng sản sinh ROS nội bào, hoạt hóa các caspase gây chết tế bào, gây ngừng chu kỳ ở pha G0/G1 và điều hòa giảm biểu hiện các gen đồng hồ sinh học Clock và Bmal1. Trên mô hình chuột gây ung thư vú bằng N-methyl-N-nitrosourea (MNU), dịch chiết quả đậu bắp ở liều 100–200 mg/kg giúp làm giảm tăng sinh biểu mô tuyến vú, ức chế các cytokine viêm liên quan đến tiến triển ung thư như IL-6, IL-1β, TNF-α, IL-17, IL-10 và TGF, tăng cường hoạt động của các tế bào miễn dịch CD4⁺ và CD8⁺.
- Bảo vệ gan: Dịch chiết rễ có khả năng bảo vệ tế bào gan HepG2 khỏi tổn thương gây bởi carbon tetrachloride (CCl₄), làm giảm tỷ lệ chết tế bào tới 39,04% và hạn chế sự rò rỉ enzym ALT ra môi trường ngoại bào tới 52,1% ở nồng độ 400 µg/mL. Trên mô hình động vật thực nghiệm, dịch chiết rễ còn giúp làm giảm các dấu ấn tổn thương gan và stress oxy hóa như MDA, bilirubin toàn phần và TNF-α, cải thiện các biến đổi mô bệnh học bao gồm gan nhiễm mỡ, hoại tử và viêm nhu mô gan. Dịch chiết quả đậu bắp ở liều 200 mg/kg cho hiệu quả bảo vệ gan trên chuột nhiễm độc CCl₄ tương đương với silymarin.
- Điều hòa miễn dịch: Các hợp chất polysaccharide phân lập từ hoa có khả năng kích thích hoạt động của đại thực bào, tăng khả năng thực bào cũng như tăng sản sinh các chất trung gian miễn dịch quan trọng như nitric oxide (NO), TNF-α và IL-1β. Cơ chế tác dụng được cho là liên quan đến việc hoạt hóa yếu tố phiên mã NF-κB, từ đó thúc đẩy biểu hiện các gen tham gia đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và tăng cường khả năng bảo vệ của cơ thể trước các tác nhân gây bệnh.
- Bảo vệ thần kinh và cải thiện suy giảm nhận thức: Trên mô hình tế bào mang biến thể H63D HFE liên quan đến bệnh Alzheimer, dịch chiết đậu bắp giúp làm giảm đáng kể sự hình thành các loại oxy phản ứng (ROS), hydrogen peroxide (H₂O₂) và tình trạng oxy hóa protein nội bào, qua đó hạn chế tổn thương và thoái hóa tế bào thần kinh. Trong thử nghiệm né tránh thụ động, chuột bệnh có thời gian tiềm tàng bước xuống giảm mạnh còn 79,4 ± 15 giây, phản ánh sự suy giảm khả năng ghi nhớ. Tuy nhiên, việc tiền xử lý bằng dịch chiết đậu bắp đã cải thiện chức năng nhận thức, kéo dài thời gian này lên 171,01 ± 18,6 giây, tiệm cận hiệu quả của thuốc đối chứng dương piracetam (223,2 ± 16,1 giây).
- Chống căng thẳng: trên mô hình chuột bị stress tâm lý do bất động ( chuột bị cố định trong ống PVC 4 tiếng) bị tăng vọt nồng độ corticosterone, glucose, cholesterol và triglyceride trong huyết tương. Sử dụng Đậu bắp liên tục trong 7 ngày một lần mỗi ngày giúp đưa các chỉ số sinh hóa căng thẳng này về mức bình thường, tương đương thuốc an thần Diazepam (2 mg/kg, i.p).
- Bảo vệ dạ dày: Lectin tinh sạch từ đậu bắp (liều hiệu quả 1 mg/kg, i.v.) ngăn chặn hoàn toàn tổn thương niêm mạc dạ dày thực nghiệm gây ra bởi cồn tuyệt đối (99,9%). Đáng chú ý, tác dụng bảo vệ của Lectin bị vô hiệu hóa hoàn toàn bởi Naloxone và Yohimbine. Điều này chứng minh tác dụng chống loét của dạ dày từ đậu bắp có sự tham gia trực tiếp của các thụ thể Opioid và thụ thể Alpha-2 adrenergic, không liên quan đến con đường Nitric Oxide hay Prostaglandin thông thường. Dịch chiết quả đậu bắp (liều 100–500 mg/kg, p.o.) ức chế sự hình thành vết loét dạ dày do cồn 80% từ 67,0% đến 81,0% (liều 500 mg/kg cho tác dụng bảo vệ mạnh hơn thuốc chuẩn Famotidine 76,3%). Đậu bắp làm giảm đáng kể thang điểm phù nề, chảy máu, điểm viêm mô học, làm tăng nồng độ retinol và β-carotene trong huyết thanh. Thử nghiệm đếm tế bào bằng dòng chảy chứng minh dịch chiết nước từ quả đậu bắp non có đặc tính chống bám dính cơ học đặc biệt. Dịch chiết ức chế từ 20% đến 70% khả năng vi khuẩn H. pylori bám vào tế bào biểu mô dạ dày người (AGS) trong dải nồng độ từ 0,2 đến 2 mg/mL, ngăn chặn bước khởi đầu của quá trình viêm loét dạ dày do vi khuẩn
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Quả dùng để nấu ăn.
Rễ và lá thái mỏng phơi khô là thuốc chữa ho, viêm họng. Ngày uống 10- 16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm, và còn dùng súc miệng.
Hạt chín phơi khô rang, pha uống như cà phê.
Ở Nepal, rễ mướp tây được giã nhuyễn cùng với một cây thuốc khác và đắp quanh chân bị gẫy của gia súc, bên ngoài bọc một mảnh vải. Sau 3-4 tuần, dùng nuớc ấm để rửa bỏ thuốc đắp.














.png)