Chòi mòi tía (Antidesma bunius (L.) Spreng.) là loài cây nhỡ thuộc họ Diệp hạ châu (Phyllanthaceae) thường mọc tự nhiên dưới tán rừng thường xanh hoặc rừng nửa rụng lá tại nhiều tỉnh thành trải dài từ Bắc vào Nam. Trong y học cổ truyền cây được để điều kinh, chữa hậu sản, trị tê thấp và giảm đau ngực bụng. Hiện nay, loài cây này ngày càng thu hút sự quan tâm của y học hiện đại nhờ chứa nhiều hoạt chất sinh học có giá trị cùng các nghiên cứu chuyên sâu cho thấy giá trị ứng dụng trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe.

Tổng quan

Tên gọi khác: Chòi mòi bun; chòi mòi lá dày; chòi mòi nhọn; chòi mòi đỉa rời; kho liên tu 

Tên khoa học: Antidesma bunius (L.) Spreng. 

Họ thực vật: họ Diệp hạ châu - Phyllanthaceae 

Phân bố và sinh thái: Cây có ở Đông Himalaya, Ấn Độ, Mianma, Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malayxia, Inđonesia, Irian và Austraylia. Tại nước ta, cây được tìm thấy ở một số tỉnh như Sơn La, Bắc Giang, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Gia Lai, Bà Rịa Vũng Tàu,.... Cây mọc tự nhiên dưới tán rừng thường xanh hay nửa rụng lá, trên đất laterit, ở độ cao 100-500 m. 

Đặc điểm thực vật

Cây nhỡ cao 3 - 8m, có các nhánh nhẵn. 

Lá hình trái xoan ngược, có khi thuôn, dài 5 - 10cm, thon - tù hay hình tim ở gốc, tròn hay hơi nhọn ở đầu, có mũi cứng, rất nhẵn bóng, khi khô màu hung nâu, dài 6 - 15cm, rộng 3 - 6cm; cuống ngắn.

Hoa thành bông đơn độc, to, nhẵn, ở ngọn hay ở nách lá. 

Quả mọng, gần hình cầu, đỏ rồi đen, đường kính 6 - 10mm, tận cùng bởi 4 đầu nhụy.

Bộ phận dùng: toàn cây

Công dụng

Y học cổ truyền

Thuốc điều kinh, chữa hậu sản, bụng ngực đau, tê thấp (Rễ). 

Y học hiện đại

Thành phần hóa họ: cây Chòi mòi tía giàu các hợp chất phenolic và sắc tố chống oxy hóa tự nhiên. Tùy từng bộ phận, thành phần hóa học được phân lập bao gồm:

Quả chín: Chứa hàm lượng cao anthocyanin (đặc biệt là cyanidin-3-glucoside và delphinidin-3-glucoside), các acid phenolic như gallic acid, protocatechuic acid, caffeic acid, ellagic acid; flavonoid như catechin, rutin, myricetin-3-galactoside, luteolin-7-galactoside, genistin; cùng với các hợp chất như trans-resveratrol, coumarin và biflavone (amentoflavone).

Lá cây: Sàng lọc hóa thực vật cho thấy sự hiện diện của saponin, tannin, polyphenol, steroid, terpenoid, lactone và alkaloid. Một số hợp chất tinh khiết được phân lập từ lá gồm corilagin, gallic acid, ferulic acid, ellagic acid, flavone vicenin II và dimer amentoflavone.

Vỏ thân: Phân lập được các hợp chất triterpenoid và steroid như friedelin, betulinic acid và β-sitosterol.

Nhiều nghiên cứu khoa học hiện đại đã chỉ ra tác dụng dược lý của cây chòi mòi tía trên các mô hình in vitroin vivo:

  • Chống béo phì và rối loạn chuyển hóa: Dịch chiết ethanol từ quả Chòi mòi tía cho thấy khả năng ức chế mạnh enzyme lipase tuyến tụy, từ đó làm giảm quá trình thủy phân và hấp thu chất béo tại ruột. Điều hòa biệt hóa tế bào mỡ (trên dòng tế bào 3T3-L1): Khả năng tác động lên quá trình biệt hóa tế bào mỡ diễn ra theo cơ chế phụ thuộc nồng độ. Ở nồng độ cao, dịch chiết thể hiện tác dụng chống biệt hóa và thúc đẩy phân giải lipid rõ rệt thông qua việc làm giảm biểu hiện mRNA của các enzyme tổng hợp lipid như GPAT-1 và ACC, từ đó hạn chế tích tụ mỡ.
  • Chống tiểu đường: Cơ chế hạ đường huyết của Chòi mòi tía được chứng minh qua nhiều mô hình thực nghiệm trên lá, quả và vỏ thân. Tác động từ lá và hạt: Chiết xuất methanol từ lá (liều 250 mg/kg) trên chuột tiểu đường typ 1 gây bởi alloxan giúp giảm tới 80,5% lượng đường huyết, đồng thời phục hồi cấu trúc vi thể tế bào beta tuyến tụy và làm tăng dự trữ glycogen tại gan lên khoảng 160%. Một nghiên cứu so sánh giữa cây đực và cây cái cho thấy chiết xuất nước từ cây đực có hoạt tính hạ đường huyết mạnh nhất, giúp giảm (61,26±17,89%) glucose máu lúc đói. Chiết xuất hạt (ABSE) ở liều 250 mg/kg cũng giúp giảm đáng kể đường huyết trên mô hình chuột gây đái tháo đường bằng STZ mà không phụ thuộc vào cơ chế kích thích tiết insulin. Tác động từ vỏ thân (ức chế α-glucosidase): Phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân ức chế mạnh enzyme α-glucosidase với giá trị IC₅₀ = 19,33 µg/mL. Trong đó, betulinic acid (IC₅₀ = 18,49 µg/mL) và friedelin (IC₅₀ = 19,51 µg/mL) là hai hoạt chất chính, có hoạt tính mạnh hơn thuốc chuẩn Miglitol. Tác động từ quả (ức chế glycation): ức chế mạnh các enzyme tiêu hóa carbohydrate như maltase và sucrase. Đặc biệt, ở nồng độ thấp 0,25 mg/mL, dịch chiết ngăn chặn hiệu quả sự hình thành các sản phẩm glycation bền vững (AGEs và Nε-CML), góp phần phòng ngừa biến chứng mạch máu do đái tháo đường.
  • Hạ lipid máu: Trên mô hình chuột béo phì do chế độ ăn giàu chất béo, dịch chiết quả giúp làm giảm đáng kể cholesterol toàn phần, triglyceride, LDL-cholesterol và làm tăng HDL-cholesterol.
  • Bảo vệ mạch máu: Nghiên cứu trên chuột BALB/c cho thấy sử dụng dịch chiết quả với liều 300 mg/kg/ngày trong 12 tuần làm tăng biểu hiện mRNA của PON1 – enzyme có vai trò chống oxy hóa LDL và ngăn ngừa xơ vữa động mạch.
  • Bảo vệ mô tim: giúp làm giảm nồng độ malondialdehyde (MDA), đồng thời ức chế biểu hiện các gen gây viêm như TNF-α, IL-6, VCAM-1, MCP-1 và eNOS.
  • Chống oxy hóa: Quả Chòi mòi tía đạt hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất khi thu hoạch ở giai đoạn chín hoàn toàn do hàm lượng anthocyanin tăng cao. Dịch chiết lá cũng cho khả năng khử gốc tự do DPPH mạnh với giá trị IC₅₀ dao động từ 3,10 đến 56,49 µg/mL tùy dung môi chiết, đồng thời làm tăng hoạt tính glutathione reductase và giảm sản sinh NO trong tế bào gan.
  • Kháng ung thư: Chiết xuất lá thể hiện độc tính chọn lọc trên các dòng tế bào ung thư đại trực tràng HCT-116 và ung thư phổi biểu mô A549. Dịch chiết cồn từ quả ức chế sự sống của dòng tế bào ung thư vú MDA-MB-231 với IC₅₀ = 219 µg/mL sau 72 giờ. Phân đoạn ethyl acetate từ quả làm chậm chu kỳ tế bào từ pha G1 sang pha S và ức chế di cư tế bào, chủ yếu nhờ hoạt chất amentoflavone.
  • Bảo vệ gan: Corilagin và gallic acid phân lập từ lá cho thấy độ an toàn cao trên tế bào gan (IC₅₀ > 1000 µg/mL), đồng thời thể hiện tác dụng bảo vệ tế bào gan mạnh, tương đương hoặc thậm chí cao hơn Silymarin ở nồng độ thử nghiệm từ 6,5–12,5 µg/mL. Sử dụng dịch chiết liều cao (1,52 g/kg) giúp giảm tích tụ mỡ trong nhu mô gan và hạ nồng độ ALT (SGPT) về mức an toàn.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

Quả ăn được. Gỗ màu trắng hồng, cứng, có thể dùng để làm các nông cụ như cuốc, cào, thuổng. Trong dân gian, rễ Chòi mòi tía được dùng để trị ban nóng, lưỡi đóng rêu, phụ nữ kinh nguyệt không đều, đau ngực bụng có khối cục và nam giới bị cước khí, thấp tê.

Ở Ấn Độ cũng như Indonesia, lá được sử dụng như một vị thuốc gây toát mồ hôi, điều trị đau do giang mai và chứng suy mòn; tại Ấn Độ, lá còn được dùng để trị nhiễm độc do động vật cắn hoặc đốt. Tại Indonesia, người ta cho biết vỏ cây có chứa một lượng nhỏ alcaloid độc.

Tại Trung Quốc, rễ, lá và quả đều được sử dụng làm thuốc. Các bộ phận này được dùng để trị ho, họng khô khát, chấn thương do té ngã và các chứng lở loét nhiễm độc.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều nhà vườn còn khai thác cây trong tự nhiên, đặc biệt những cây có bộ rễ sần sùi, để tạo dáng bonsai.