Tuyến hương lá hoa (Adenosma bracteosum Bonati) còn được biết đến với tên gọi nhân trần tía hay nhân trần lá nhỏ là loài cây thân thảo hằng năm thuộc họ Mã đề (Plantaginaceae). Trong y học cổ truyền, toàn cây trừ rễ được dùng làm vị thuốc tính ấm, giúp thanh nhiệt, lợi mật, kích thích tiêu hóa, chủ trị viêm gan virus, xơ gan, vàng da, sốt và cảm cúm. Hiện nay, loài cây này ngày càng thu hút sự quan tâm của y học hiện đại.

Tổng quan
Tên gọi khác: nhân trần tía, nhân trần lá nhỏ
Tên khoa học: Adenosma bracteosum Bonati
Họ thực vật: họ Mã đề - Plantaginaceae
Phân bố và sinh thái: cây có ở Campuchia, Lào và Nam Việt Nam. Ở Việt Nam có gặp từ Kon Tum đến thành phố Hồ Chí Minh. Cây mọc tự nhiên ở các bãi hoang, ruộng hoang, ở độ cao 300-400 m.
Đặc điểm thực vật
Cỏ mọc hằng năm, có thân đứng cao 20 - 40cm, ít phân nhánh, hình vuông, có cánh hẹp dọc theo các góc; nhẵn hoặc có lông tuyến rải rác.
Lá không cuống, thuôn, nhọn ở đầu, gần có tai ở gốc, nửa ôm thân, dài 10 - 40mm, rộng 3 - 10mm, mép hơi có răng nhọn ở nửa trên, có lông xồm rải rác ở mặt trên, nhẵn ở mặt dưới.
Cụm hoa ở ngọn dạng bông dài 1 - 3,5cm, rộng 1 cm với hoa nhiều và dày đặc, bao bởi những lá bắc dạng lá nom như một bao chung, lá bắc trên dạng tim, có cuống ngắn, có tuyến và có lông ở mép; lá bắc con 2, dạng sợi, có lông tuyến. Đài có 5 lá đài không đều, rời nhau, có lông xồm rậm và có tuyến ở mép, lá đài trên hình tim nhọn, dài và rộng cỡ 2,5mm, 2 cái dưới hình trứng nhọn, cỡ 2,5 x 2mm; các lá đài trong hình ngọn giáo, nhọn, cỡ 2 x 0,5mm. Tràng cao 5mm, màu lam có lông rải rác ở mặt ngoài, môi trên tròn, môi dưới cũng dài bằng môi trên, có 3 thùy hình trứng.
Quả nang hình nón tròn, cỡ 2 x 1,5mm.
Mùa hoa quả: tháng 7-12
Bộ phận dùng: cả cây trừ rễ
Công dụng
Y học cổ truyền
Vị cay, hơi đắng; mùi thơm đặc trưng, tính ấm. Tác dụng: Giúp thanh nhiệt, lợi tiểu, lợi mật, kích thích tiêu hóa. Cây dùng chữa viêm gan, viêm gan virus, xơ gan, vàng da, ăn uống kém tiêu, sốt, cảm cúm, ngộ độc
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Cây Tuyến hương lá hoa được xác định chứa tinh dầu, flavonoid, triterpenoid và steroid. Tinh dầu: Phân tích bằng phương pháp GC và GC/MS định danh được 12 hợp chất chính gồm thymol (25,6%), linalool (13,1%) và (E)-β-farnesene (9,5%); Flavonoid: xanthomicrol, 5,4’-dihydroxy-6,7,8,3’-tetramethoxyflavone (ký hiệu là AB2) và các glycoside flavonoid như isoscutellarein-8-O-β-D-glucopyranoside (ký hiệu là IG); betulinic acid, ursolic acid và stigmasterol.
Một số tác dụng dược lý của cây đã được chứng minh qua các thử nghiệm in vitro và in vivo:
- Chống đái tháo đường: Dịch chiết ethanol và dịch chiết nước thể hiện hoạt tính ức chế mạnh enzyme α-glucosidase, cho hiệu quả cao hơn chất đối chứng acarbose ở cùng nồng độ. Hoạt chất tinh khiết IG phân lập từ dịch chiết có khả năng ức chế α-glucosidase mạnh gấp 10 lần so với acarbose. Các dẫn xuất flavonoid methoxy hóa khác từ cây cũng cho giá trị IC₅₀ ức chế enzyme này dao động từ 16,7 đến 421,8 µM. Trên mô hình chuột bị tăng đường huyết do glucose và mô hình chuột đái tháo đường gây bởi streptozotocin (STZ), cả hai loại dịch chiết đều thể hiện tác dụng hạ đường huyết mạnh. Ở ngày thứ 21 của thử nghiệm trên chuột bệnh lý do STZ, liều 50 mg/kg dịch chiết cồn và 50 mg/kg dịch chiết nước làm giảm lần lượt 64,42% và 57,69% nồng độ glucose trong máu so với nhóm đối chứng bệnh lý. Hiệu quả hạ đường huyết của hoạt chất IG (ở mức liều 10 mg/kg) tương đương với thuốc chuẩn glibenclamide ở cùng liều lượng.
- Kháng ung thư và độc tính tế bào: Dịch chiết chloroform từ cây thể hiện hoạt tính ức chế tăng sinh tế bào mạnh trên hai dòng tế bào ung thư người là ung thư biểu mô phổi tế bào lớn (NCI-H460) và ung thư biểu mô tế bào gan (HepG2). Trong đó, hoạt chất flavonoid AB2 thể hiện độc tính tế bào cao nhất với giá trị IC₅₀ trên dòng NCI-H460 là 4,57 ± 0,32 µg/mL và trên dòng HepG2 là 5,67 ± 0,09 µg/mL. Hoạt chất ursolic acid cũng cho hoạt tính kháng u với giá trị IC₅₀ lần lượt là 13,05 ± 0,55 µg/mL và 10,00 ± 0,16 µg/mL. Về cơ chế phân tử, hợp chất AB2 kích thích tăng mạnh sự tích tụ các gốc oxy hóa nội sinh (ROS), gây suy giảm điện thế màng ty thể, từ đó kích hoạt trực tiếp enzyme caspase-3 để khởi động chu trình chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào ung thư.
- Chống oxy hóa: Dịch chiết ethanol và dịch chiết nước sở hữu năng lực quét gốc tự do mạnh mẽ qua hai phép thử FRAP (khả năng khử sắt) và DPPH.
- Bảo vệ gan: Trên mô hình chuột bị tổn thương gan cấp tính gây bởi carbon tetrachloride (CCl₄), cả hai dạng dịch chiết (nước và cồn) đều chứng minh hiệu quả bảo vệ và phục hồi nhu mô gan rõ rệt trước tác động hủy hoại tế bào gan của độc chất.
- Ức chế xanthine oxidase (Chống bệnh Gout): Thực nghiệm ghi nhận các phân đoạn chiết xuất từ cây Tuyến hương lá hoa (đặc biệt là dịch chiết chloroform, ethanol và dịch chiết nước) có khả năng ức chế trực tiếp enzyme xanthine oxidase (enzyme chịu trách nhiệm chuyển hóa hypoxanthine thành acid uric trong cơ thể)
- Kháng khuẩn nhờ hệ vi sinh vật nội sinh: Nghiên cứu phân lập từ cây Tuyến hương lá hoa thu hoạch tại Tây Ninh thu được 36 chủng vi khuẩn nội sinh (endophytic bacteria). Trong đó, có 8 chủng thể hiện hoạt tính kháng chủng vi khuẩn gây bệnh Aeromonas hydrophila. Đặc biệt, chủng SB1R13.2 (được định danh có độ tương đồng 100% với Bacillus velezensis LEF MYM 5) cho vòng kháng khuẩn lớn nhất (18 mm) và có khả năng ức chế hoàn toàn sự phát triển của khuẩn hại A. hydrophila trong vòng 48 giờ ở môi trường nuôi cấy lỏng
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Chữa viêm gan do virus: Nhân trần tía 16 g, lá vọng cách 16 g, lá cối xay 12 g, sắc uống.
- Chữa kém ăn, đầy bụng, khó tiêu: Nhân trần tía 12 g, kim tiền thảo 10 g, cam thảo nam 10 g. Các vị dùng cả cây trừ rễ, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2 lần trong ngày sau bữa ăn.














.png)