Dâm bụt (Hibiscus rosa-sinensis L.) là loài cây cảnh quen thuộc thuộc họ Bông (Malvaceae) được trồng phổ biến ở nhiều vùng nhiệt đới như Việt Nam, Malaysia hay Indonesia. Không chỉ có giá trị thẩm mỹ, dâm bụt còn là một dược liệu truyền thống được sử dụng trong nhiều bài thuốc dân gian. Những năm gần đây, loài cây này tiếp tục thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu nhờ chứa nhiều hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học đa dạng và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe.

Tổng quan
Tên gọi khác: Bông bụt, Râm bụt, Phù tang
Tên khoa học: Hibiscus rosa-sinensis L.
Họ thực vật: họ Bông - Malvaceae
Phân bố và sinh thái: Trồng khắp nơi trong Việt Nam để làm cảnh và làm hàng rào. Còn mọc ở Malaysia, Philippin, Indonexia.
Đặc điểm thực vật
Cây nhỡ, cao từ 1 đến 2 mét. Lá đơn, mọc cách, có lá kèm, phiến lá khía răng cưa, hình bầu dục, gốc tròn, đầu nhọn
Hoa to, mọc đơn độc, đều, lưỡng tính, màu đỏ. Tiểu đài 6-10. Đài gồm 5 lá đài, màu lục dính vào nhau. Tràng 5, rời nhau, phiến rộng, mỏng hẹp. Bộ nhị đơn thể gồm nhiều nhị dính liền nhau bởi chỉ nhị thành một ống dài mang những bao phấn chỉ có một ổ phấn. 5 lá noãn dính nhau thành một bầu thượng 5 ô, mỗi ô chứa hai day noãn theo kiểu đính noãn trung trụ. Vòi dài nằm trong ống nhị, đầu nhụy có 5 núm.
Quả nang.
Mùa hoa quả vào tháng 5-7.
Bộ phận dùng: lá, hoa, vỏ thân, rễ
Công dụng
Y học cổ truyền
Dâm bụt có tính bình, vị ngọt, hơi đắng, nhớt, quy vào kinh thận, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, chỉ huyết, giải độc, cố tinh, sát trùng.
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Toàn cây rất giàu flavonoids, tannins, terpenoids, saponins, alkaloids, phenols, anthraquinones, quinones, glycosides tim, chất nhầy (mucilage), tinh dầu và các steroids tự nhiên (như sitosterol, stigmasterol, taraxeryl acetate). Ngoài ra, cây còn chứa hàm lượng dinh dưỡng cao với carbohydrate, protein, các axit amin tự do, chất béo, chất xơ và các khoáng chất thiết quan trọng (đặc biệt là Canxi, Kali, Sắt, Phốt pho). Hoa chứa các hợp chất flavonoid như quercetin, quercetin-3-diglucoside, kaempferol, kaempferol-3-xylosylglucoside, cùng các sắc tố anthocyanin (như cyanidin-3-sophoroside-5-glucoside, cyanidin-3,5-diglucoside), đồng thời cũng chứa các vitamin nhóm B (B1, B2, B3), vitamin C, beta-carotene và các axit hữu cơ (axit citric, axit oxalic). Lá chứa lượng lớn tannins, saponins, glycosides, các alkaloid vòng (cyclopeptide alkaloids), carbohydrate (chiếm khoảng 31-69%) và các axit béo bão hòa (như malvalic acid, sterculic acid).
Hiện nay nhiều nghiên cứu đã ghi nhận các tác dụng dược lý đa dạng của dâm bụt trên các mô hình in vitro và in vivo:
- Chống oxy hóa: Chiết xuất ethanol từ hoa dâm bụt chứng minh khả năng tăng cường bẫy gốc tự do phụ thuộc theo liều lượng (liều càng cao hiệu quả càng mạnh). Đồng thời, hoạt chất này ngăn chặn hiệu quả quá trình oxy hóa chất béo. cao methanol giúp ức chế quá trình oxy hóa linoleic acid lên đến 75.8% và bẫy gốc tự do DPPH đạt 75.46%
- Kháng khuẩn: Cao chiết lá và hoa có tác dụng ức chế Escherichia coli, Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa và Enterobacter aerogenes với vòng vô khuẩn khoảng 11–20 mm tùy loại dung môi chiết.
- Chống viêm, giảm đau và hạ sốt: Chiết xuất ethanol từ dâm bụt (ở các liều 0.125, 0.25 và 0.5 g/kg) thể hiện hoạt tính chống viêm mạnh mẽ trên cả mô hình viêm cấp tính (phù chân chuột do carrageenan, phù tai do xylene) lẫn viêm mãn tính (u hạt thực nghiệm). Đồng thời, chiết xuất này cũng cho thấy tác dụng giảm đau hiệu quả trong các thử nghiệm gây quặn đau và thử nghiệm formalin, cùng khả năng hạ sốt rõ rệt trên chuột bị gây sốt bằng men bia
- Chống đái tháo đường: Chiết xuất ethyl acetate từ cánh hoa dâm bụt (liều 25 mg/kg) giúp giảm mạnh lượng glucose trong huyết thanh và chỉ số glycated hemoglobin (HbA1c). Chiết xuất hoa dâm bụt bằng axit clohydric (liều 50–200 mg/kg) cho hiệu quả hạ đường huyết tương đương với các thuốc chuẩn (glibenclamide và sulphonylurea). Sau 28 ngày điều trị, kích thước, số lượng và đường kính của các đảo tụy tăng lên rõ rệt, đồng thời tình trạng teo và hoại tử tế bào đảo tụy cũng được cải thiện đáng kể. Khi thử nghiệm chiết xuất ethanol-nước (liều 500 mg/kg trong 4 tuần) trên chuột bị tiểu đường do streptozotocin cho kết quả giảm rõ rệt của đường huyết, creatinine, uric acid và urê
- Làm lành vết thương: Cao ethanol hoa dâm bụt giúp tăng tốc độ co vết thương, rút ngắn thời gian biểu mô hóa, tăng độ bền da và tăng hàm lượng hydroxyproline trong mô hạt trên mô hình chuột thực nghiệm.
- Chống sinh sản: Cao chiết hoa dâm bụt có tác dụng làm giảm số lượng tinh trùng, giảm testosterone, giảm trọng lượng tinh hoàn và gây rối loạn chu kỳ động dục trên động vật thực nghiệm, từ đó cho thấy tiềm năng chống sinh sản và tránh thai.
- Bảo vệ gan và hạ lipid máu: Một số nghiên cứu ghi nhận cao chiết dâm bụt có tác dụng bảo vệ gan, giảm cholesterol và cải thiện rối loạn lipid máu.
- Trên thần kinh trung ương: Dịch chiết dâm bụt có tác dụng chống co giật, chống trầm cảm, tăng cường trí nhớ và bảo vệ thần kinh trên các mô hình động vật thực nghiệm.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Trị trĩ: Dùng 4-12g vỏ rễ Dâm bụt, sắc lấy nước ngâm, rửa trĩ.
- Lá Râm bụt chữa mụn nhọt: Dùng nước sắc từ vỏ rễ Dâm bụt ngâm rửa vùng da bị mụn nhọt, đồng thời lấy lá hoặc hoa tươi giã nhỏ với một chút muối, đắp ngoài mụn nhọt đang mưng mủ sẽ giúp giảm nhức và nhanh vỡ mủ.
- Chữa kiết lỵ ra máu: Dùng vỏ thân Dâm bụt (cạo bỏ vỏ thô), sao vàng, lá Táo sao vàng, mỗi thứ 20g; sắc lấy nước uống.
- Chữa bạch đới, mộng tinh, tiểu buốt, lỵ: Dùng lá, hoa Dâm bụt, lá Bạch đồng nữ, Thài lài tía, mỗi thứ một nắm; giã nhỏ, chế với nước chín, chắt lấy nước cốt uống.
- Chữa mộng tinh: Dùng hoa Dâm bụt 30g, gương Sen cả cuống 3 cái, sắc lấy nước uống.
- Chữa khó ngủ, hồi hộp, tiểu đỏ: Dùng hoa Dâm bụt hãm với nước sôi, uống thay chè.
- Chữa rối loạn kinh nguyệt, kinh tới sớm kỳ, ngắn vòng, hoặc ra nhiều máu, rong huyết: Dùng vỏ rễ Dâm bụt, lá Huyết dụ mỗi vị 30g, sắc lấy nước uống.
- Chữa quai bị, đau mắt: Dùng lá Dâm bụt, lá Dành dành, mỗi thứ một nắm; giã nhỏ, chắt lấy nước uống, phần bã đắp lên chỗ quai bị hoặc bên ngoài mắt bị đau.
- Hoa Dâm bụt chữa sỏi thận: Dùng hoa Dâm bụt 9 cái cho vào bát, thêm nước và đường phèn, chưng cách thủy tới khi nước sôi được 1 phút thì tắt bếp, để nguội, ăn và uống hết.














.png)