Ké hoa vàng (Sida rhombifolia L.) là loài cây thảo thuộc họ Bông (Malvaceae), mọc hoang phổ biến ở nhiều vùng nhiệt đới như Việt Nam, Lào, Campuchia, Ấn Độ và Malaysia. Cây dễ nhận biết với thân nhỏ nhiều lông, hoa vàng nhỏ mọc ở kẽ lá và khả năng sinh trưởng mạnh trên đất trống, ven đường hay bãi cỏ. Nhiều nghiên cứu hiện đại cho thấy loài cây này chứa đa dạng hợp chất tự nhiên có tiềm năng chống viêm, chống oxy hóa cùng nhiều tiềm năng khác trong lĩnh vực bảo vệ chăm sóc sức khỏe từ dược liệu

Tổng quan
Tên gọi khác: ké đồng tiền, chồi đực, bạch bối hoàng, bạch đới
Tên khoa học: Sida rhombifolia L.
Tên đồng danh pháp: Malva rhombifolia (L.) Krause
Họ thực vật: họ Bông - Malvaceae
Phân bố và sinh thái: Cây ké hoa vàng mọc hoang rất phổ biến khắp nơi ở nước ta, còn mọc ở Campuchia, Lào, Ấn độ, Indonexia, Trung quốc (miền Nam và hải nam), Malayxia.
Đặc điểm thực vật
Cây nhỏ mọc thẳng đứng, cao 0,5-1m, thân và cành có nhiều lông ngắn hình sao.
Lá hình trứng hay gần như hình trứng, đầu hơi nhọn ngắn, mép hơi răng cưa, dài 1,5-4cm, rộng 1-2,5cm, cuống dài 3-5mm, rất nhiều lông.
Hoa màu vàng, mọc ở kẽ lá hay đầu cành. Đài hình chuông lá đài có lông màu trắng nhạt ở phía ngoài. Cánh trắng màu vàng cũng có lông mịn. Nhị 20, nhụy có 7 vòi.
Quả có vỏ mỏng dễ vỡ, ở đỉnh có lông, phía lưng có 2 vết nổi. Hạt cũng có lông.
Mùa hoa quả: gần như quanh năm
Bộ phận dùng: toàn cây
Công dụng
Y học cổ truyền
Ké hoa vàng có vị cay ngọt, tính mát, có tác dụng làm ra mồ hôi nhẹ, giảm cân, giải cảm, phong nhiệt, làm tan máu ứ, tiêu sung.
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Ké hoa vàng chứa nhiều nhóm hợp chất sinh học đa dạng bao gồm tannin, polyphenol, alkaloid, glycoside, flavonoid, saponin, steroid, acid béo và tinh dầu. Từ cây đã phân lập được các ecdysteroid bao gồm ecdysone, 20-hydroxyecdysone, 2-deoxy-20-hydroxyecdysone-3-O-β-D-glucopyranoside và 20-hydroxyecdysone-3-O-β-D-glucopyranoside. Một số hợp chất được phân lập như rhombifoliamide, β-amyrin glucoside, ursolic acid, β-sitosterol glucoside, tiliroside, 1,6-dihydroxyxanthone, cryptolepine, (E)-suberenol, thamnosmonin và xanthyletin. Từ rễ cây đã xác định được cấu trúc của hai chất kháng viêm là Z-3,6,6 trimethylhept-2-en-1-ol và nonanoic acid. Phân tích hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs) và phân đoạn n-hexane cho thấy sự có mặt của palmitic acid, phytol, 6,10,14-trimethyl-2-pentadecanone, oleic acid, 2-pentyl-furan, linoleic acid và γ-sitosterol.
Tác dụng dược lý của cây Ké hoa vàng được chứng minh qua các thử nghiệm in vitro và in vivo trong các tài liệu khoa học:
- Chống viêm và giảm đau: Phân đoạn n-hexane từ toàn cây thể hiện hoạt tính chống viêm mạnh thông qua ức chế sản sinh NO và ức chế biến tính protein với giá trị IC50 lần lượt là 52,16 và 146,03 µg/mL. Hai hợp chất phân lập từ rễ là Z-3,6,6 trimethylhept-2-en-1-ol và nonanoic acid thể hiện tác dụng kháng viêm nhờ khả năng ức chế không chọn lọc enzym cyclooxygenase (COX-1 và COX-2) ở nồng độ cực thấp từ 0,025–0,05 µg/mL. Trên mô hình in vivo, dịch chiết methanol từ phần trên mặt đất giúp giảm đáng kể tình trạng phù chân chuột do carrageenan nhờ cơ chế ức chế giải phóng các chất giống histamine. Một nghiên cứu khác chỉ ra chiết xuất ethanol từ phần trên mặt đất cũng làm giảm đáng kể số lần quặn đau do acid acetic gây ra ở chuột với liều 250 và 500 mg/kg trọng lượng cơ thể.
- Chống oxy hóa và trị viêm khớp: Thử nghiệm trên mô hình chuột bị viêm khớp, dịch chiết từ rễ và thân Ké hoa vàng sử dụng trong 30 ngày giúp đưa các chỉ số huyết học về mức bình thường, giảm mạnh tốc độ lắng hồng cầu. Dịch chiết làm tăng đáng kể nồng độ các chất phản ứng với acid thiobarbituric (TBARS), tăng hoạt tính enzym catalase, glutathione peroxidase, đồng thời giảm mức glutathione khử và hoạt tính superoxide dismutase (SOD). Tác dụng bảo vệ và dọn gốc tự do này cũng được xác nhận qua hình ảnh mô bệnh học của khớp gối. Đối với các hợp chất bay hơi (VOCs), hoạt tính bắt gốc tự do DPPH và ABTS thể hiện phụ thuộc vào nồng độ với IC50 lần lượt là 5,48 mg/mL và 1,47 mg/mL.
- Bảo vệ gan và chống ung thư gan: Chiết xuất từ rễ, phần trên mặt đất và dịch chiết nước của cây thể hiện hoạt tính bảo vệ gan rõ rệt trên mô hình chuột bị nhiễm độc gan do CCl4, paracetamol và rifampicin thông qua việc phục hồi nồng độ bilirubin và các enzym gan trong huyết thanh. Chiết xuất từ hạt giúp phục hồi các enzym tổn thương gan (GPT, GOT, ALP) và cấu trúc tế bào bị hủy hoại do CCl4 và chất gây ung thư DEN. Đối với tế bào ung thư, dịch chiết ethyl acetate (EtOAc) thể hiện độc tính tế bào mạnh nhất trên dòng tế bào ung thư gan người HepG2 (IC50 = 364,3 µg/mL) so với dịch chiết MeOH và Hexane. Ở nồng độ 300 µg/mL, dịch chiết EtOAc kích thích 34% tế bào HepG2 đi vào chu trình chết tự nhiên (apoptosis) thông qua con đường ti thể bằng cách tăng biểu hiện của gene tiền apoptosis Bax và tăng tỷ lệ Bax/Bcl-2. Cây cũng thể hiện độc tính tế bào trên dòng ung thư dạ dày SNU-1 và ấu trùng tôm muỗi (brine shrimp).
- Bảo vệ tim mạch: Trên mô hình chuột bị tổn thương tim do chế độ ăn giàu chất béo - đường (high-fat-sucrose diet) phối hợp tiêm CCl4, dịch chiết lá Ké hoa vàng liều 200 mg/kg giúp bảo vệ cơ tim bằng cách điều hòa mức độ viêm cơ tim, giảm xơ hóa mô tim và làm thay đổi sự biểu hiện mRNA của cytokine tiền viêm IL-6.
- Kháng khuẩn: Dịch chiết hydro-methanol từ cây thể hiện hoạt tính kháng khuẩn vừa phải đối với 7 chủng vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy, trong đó vi khuẩn Salmonella dysenteriae là nhạy cảm nhất với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đạt 49,40 µg/ml. Ngoài ra, hợp chất 5-hydroxy-7,4′-dimethoxyflavone từ cây kháng khuẩn với MIC < 0,16–1,25 mg/mL, trong khi henicosan-1-ol ức chế vi khuẩn Mycobacterium smegmatis với MIC = 25 µg/mL.
- Hạ đường huyết và kháng α-glucosidase: Chiết xuất acetone từ lá Ké hoa vàng thể hiện hoạt tính ức chế mạnh enzym α-glucosidase từ nấm men với IC50 = 8,10 µg/mL, trong đó hai hợp chất có hoạt tính cao nhất là p-hydroxyphenethyl trans-ferulate và β-sitosteryl glucopyranoside. Trên mô hình chuột bình thường và chuột bị tiểu đường do streptozotocin (STZ), dịch chiết nước từ lá liều 200 mg/kg làm giảm lần lượt 15% và 17% lượng glucose trong huyết tương, đồng thời làm giảm triglycerides (16%) và cholesterol (4%).
- Chống sa sút trí tuệ (Kháng cholinesterase): Phân đoạn n-hexane từ toàn cây ở nồng độ 100 µg/mL thể hiện hoạt tính ức chế enzym acetylcholinesterase (AChE) lên đến 58,55%, mở ra tiềm năng ứng dụng trong điều trị các bệnh lý suy giảm trí nhớ.
- Kháng ký sinh trùng sốt rét: Chiết xuất cây có hoạt tính kháng lại các chủng ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum nhạy cảm với chloroquine (3D7) và kháng chloroquine (Dd2) với giá trị IC50 lần lượt dao động từ 0,18–20,11 µg/mL và 0,74–63,09 µg/mL.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Chữa mụn nhọt, sưng chín mé: Lá ké hoa vàng, lá cỏ xước, mỗi vị 50g. Rửa sạch, lấy mỗi thứ 25g, giã nát đắp lên vết thương. Nửa còn lại phơi khô, sắc với 400ml nước, còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Ngày làm 1 lần
- Chữa kém ăn, mệt mỏi, đau nhức, mất ngủ, phù nề ở phụ nữ mới đẻ: Cây ké hoa vàng, nhân trần, thân và rễ mộc thông, rễ móc diều (vuốt hùm), mỗi vị 20g, sao vàng, sắc uống. Phụ nữ có thai không dùng.
- Chữa dị ứng mẩn ngứa: Ké hoa vàng (cành lá có hoa) 50g, lá thồm lồm 50g, lá trầu không 30g. Dùng tươi giã nhỏ, lấy cả nước lẫn bã xát nhẹ lên vết mẩn. Ngày làm 1-2 lần.
- Chứa kiết lỵ: Rễ ké hoa vàng, rễ xích đồng nam, mỗi vị 20g. Sắc uống trong ngày. Dùng 3-4 ngày.
- Chữa ban chẩn: Ké hoa vàng 8g, rễ lá lức 10g, cỏ mần trầu, cát căn, đậu chiều, dây giác tía, mỗi vị 8g, kinh giới 6g, cam thảo đất 5g, bạc hà 4g, gừng sống 3 lát. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm ruột lỵ: Dùng Ké hoa vàng, Mã đề, mỗi vị 30g, Nghể răm 15g, sắc uống.
- Vàng da: Dùng Ké hoa vàng, Vẩy rồng, Hàm ếch, mỗi vị 30g sắc uống.
- Viêm hạch bạch huyết do lao cổ: Dùng Ké hoa vàng 60g nấu với thịt với lượng gấp đôi rồi ăn. Cũng dùng lá tươi đắp ngoài.
- Chữa sốt, đau lưng, tê thấp: Dùng toàn cây 30g sắc uống.














.png)