Trương quân lợp nhà (Ancistrocladus tectorius (Lour.) Merr) là loài cây bụi leo thuộc họ Trung Quân (Ancistrocladaceae) phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi từ Quảng Nam trở vào. Cây ưa sáng, thường mọc trong rừng kín hoặc bờ nương, toàn cây dùng làm dược liệu với tác dụng giảm đau nhức xương khớp, phong thấp và hỗ trợ điều trị mỏi cơ. Cây có nhiều tiềm năng nghiên cứu trong y học hiện đại.

Tổng quan
Tên gọi khác: dây lá lợp, trung quân, dây trung quân, dây sườn bò, trương quân
Tên khoa học: Ancistrocladus tectorius (Lour.) Merr.
Họ thực vật: Ancistrocladaceae – họ Trung quân
Phân bố và sinh thái: Tại Việt Nam, cây được tìm thấy chủ yếu ở các tỉnh miền núi, điển hình là các tỉnh từ Quảng Nam trở vào, cây hiếm gặp ở miền Bắc. Độ cao phân bố của cây rơi vào khoảng vài chục mét đến 1000 mét. Là loài cây ưa sáng, có thể chịu được bóng, thường được tìm thấy ở những quần hệ thuộc các khu rừng kín nguyên sinh hoặc thứ sinh. Đôi khi, có thể bắt gặp cây ở những đồi có nhiều cây bụi hoặc bờ nương.
Đặc điểm thực vật
Cây bụi leo, cây thường leo nhờ những gai cong móc được biến thành từ những cành nhỏ.
Thân cây có dạng hình trụ, trên thân có nhiều sẹo do lá sau khi rụng để lại, cành cây nằm ngang.
Cụm hoa mọc thành xim ở đầu cành, hoa có kích thước nhỏ, màu đỏ. Đài 5, tràng 5.
Quả có 5 cánh nhưng không đều, hạt có dạng hình cầu.
Mùa hoa quả rơi vào tháng 12 năm nay đến tháng 3 năm sau.
Bộ phận dùng: toàn cây
Công dụng
Y học cổ truyền
Cây có vị đắng, tính bình, hơi chát, không độc. Tác dụng: Giải nhiệt, mạnh gân xương, trợ khí, giải độc, hành huyết, trừ đờm, trục ứ. Cây được sử dụng để chữa phong thấp, đau lưng, phụ nữ sau sinh muốn dùng để lại sức. Bên cạnh đó, cây còn sử dụng để chữa lỵ và sốt rét với liều từ 8 đến 16g đem sắc hoặc ngâm rượu uống.
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Trương quân lợp nhà (Ancistrocladus tectorius) chứa chủ yếu các alkaloid kiểu naphthylisoquinoline cùng các hợp chất polyphenol và flavonoid. Từ thân, cành và rễ đã phân lập được nhiều alkaloid như ancistectorine A1, A2, A3, B1, B2, C1, ancistrotectorine A–E, ancistrobenomine B và C, ancistrocladinine, hamatine, hamatinine, ancistrotanzanine A, B, các dimeric naphthylisoquinoline như shuangancistrotectorine A–E. Một số hợp chất có cấu trúc đối quang đặc trưng và được xem là thành phần chính liên quan đến hoạt tính sinh học của loài.
Tác dụng dược lý của cây được chỉ ra trong một số tài liệu, báo cáo khoa học và thực nghiệm:
- Chống béo phì: Cao ethanol 70% từ lá và thân làm giảm tích lũy lipid trong tế bào mỡ 3T3-L1, giảm khối lượng cơ thể và cải thiện glucose huyết, insulin, triglycerid và cholesterol trên mô hình chuột ăn khẩu phần giàu lipid. Tác dụng liên quan đến tăng sinh nhiệt và điều hòa động học ty thể ở mô mỡ nâu.
- Chống viêm: Dịch chiết methanol ức chế sản sinh nitric oxide và làm giảm biểu hiện TNF-α, IL-1β, IL-6 trên đại thực bào RAW264.7 kích thích bởi LPS thông qua ức chế các đường truyền tín hiệu NF-κB và MAPK.
- Chống sốt rét: Các alkaloid ancistectorine A2, 5-epi-ancistectorine A2 và một số shuangancistrotectorine cho hoạt tính kháng Plasmodium falciparum mạnh và chọn lọc trên mô hình in vitro.
- Chống ký sinh trùng: Ancistectorine D và một số naphthylisoquinoline khác cho tác dụng trên Trypanosoma cruzi, Trypanosoma brucei rhodesiense và Leishmania donovani.
- Chống ung thư: Nhiều alkaloid như ancistrotectorine E, ancistectorine D và ancistrobenomine B thể hiện độc tính tế bào mạnh trên các dòng ung thư HL-60, K562, U937, CCRF-CEM và dòng đa kháng thuốc CEM/ADR5000.
- Kháng virus: Dịch chiết methanol từ rễ cho tác dụng kháng virus herpes simplex type 1 (HSV-1) mức độ trung bình trên mô hình in vitro.
- Kháng khuẩn: Dịch chiết từ rễ cho hoạt tính ức chế một số chủng vi khuẩn và tăng khả năng thực bào cũng như tiêu diệt nội bào của đại thực bào đối với Listeria monocytogenes.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Chữa phù nề: 200g rễ và dây leo của cây Trương Quân, 200g vỏ cây đỗ trọng nam, 200g rễ Nhàu, 100g rễ Sâm Bố Chính, 100g Yếm Rùa. Tất cả các vị đem đi thái nhỏ, sau đó phơi khô và sao vàng rồi ngâm với 1 lít rượu. Thời gian ủ từ 15 đến 20 ngày sau đó mỗi lần uống 30ml, ngày uống 2 lần.
- Trị đau lưng, đau xương khớp và tê mỏi thần kinh ngoại biên: Trương quân 12-16g, cốt toái bổ 12-16g, cẩu tích 12-16g, ké khuyết đằng 12-16g, tang chi 12-16g, tang ký sinh 12-16g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liên tục trong 2-3 tuần
- Trị sốt rét: Trương quân (rễ, thân) 12g, rễ cây thường sơn 12g, thảo quả 4g. Sắc uống hoặc làm thuốc hoàn, ngày 1 thang, uống liên tục 3-4 tuần đến khi hết triệu chứng.
- Trị lỵ: Trương quân (rễ, thân) 10-12g, Cỏ sữa nhỏ lá hoặc lớn lá 10-12g, Nam mộc hương 16g. Sắc uống ngày 1 thang, dùng liên tục 2-3 tuần. Dùng cho phụ nữ sau sinh: Lấy rễ và thân trương quân, thái mỏng, sao vàng, sắc uống ngày 12-16g, dùng trong vài tuần.
- Trị đau xương cốt, đau mỏi cơ nhục và bồi bổ cơ thể: Rễ và dây trương quân 200g, vỏ cây đỗ trọng nam 200g, rễ nhàu 200g, kê huyết đằng 100g, huyết giác 100g, sâm bố chính 100g, quy bản 100g, trần bì 20g. Ngâm với 3-4 lít rượu 30-45 độ trong 3-4 tuần. Uống ngày 2-3 lần, mỗi lần 30-40ml trước bữa ăn.














.png)