Tỏi (Allium sativum) là loài cây thuộc họ Thủy tiên (Amaryllidaceae) có nguồn gốc từ Trung Á và hiện được trồng rộng rãi trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Tỏi chủ yếu làm gia vị và dược liệu. Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, tỏi được sử dụng phổ biến với mục đích sát khuẩn, giải độc và hỗ trợ tiêu hóa.

Tổng quan
Tên gọi khác: Đại toán, Tỏi ta
Tên khoa học: Allium sativum
Họ thực vật: họ Thủy tiên - Amaryllidaceae
Phân bố và sinh thái: Cây có nguồn gốc Trung Á, hiện được trồng khắp nơi trên thế giới. Tại Việt Nam, cây được trồng nhiều ở Hà Bắc, Hải Hưng, Quảng Ngãi, Ninh Thuận…
Đặc điểm thực vật
Cây thân thảo sống hàng năm, cao khoảng 30-40cm.
Thân hành ngắn, hình tháp gồm nhiều cành con gọi là nhánh tỏi, to nhỏ không đều nhau, xếp ép vào nhau quanh một trục lõi, vỏ ngoài của thân hành mỏng, màu trắng hoặc hơi hồng.
Lá phẳng và hẹp, hình dải, mỏng, bẹ to và dài có rãnh dọc, đầu nhọn, gân lá song song, hai mặt nhẵn.
Cụm hoa mọc ở ngọn thành đầu tròn, bao bọc bởi những lá mo có mũi nhọn dài. Hoa màu trắng hoặc hồng có cuống dạng sợi dài; bao hoa gồm 6 phiến hình mũi mác, xếp thành 2 hàng, thuôn; nhị 6, chỉ nhị có cựa dài, đính vào các mảnh bao hoa; bầu hình cầu.
Quả nang.
Mùa hoa quả từ tháng 8 - 11.
Bộ phận dùng: Thân hành (giò), thường gọi là Đại toán. Thân hành hay được gọi là củ tỏi, thu hoạch vào cuối mùa đông, có thể dùng tươi hoặc phơi khô dùng dần.
Công dụng
Y học cổ truyền
Tỏi có tính ấm, vị cay, mùi hôi, quy vào kinh tỳ, vị, phế, tác dụng hành khí, ôn trung, tiêu tích trệ, sát trùng, giải độc. Chủ trị: Cảm cúm, ho gà, viêm phế quản, ăn uống tích trệ, thượng vị đau nhức do đầy hơi, tiêu chảy mụn nhọt, áp xe viêm tấy, hói trán, trị giun kim.
Y học hiện đại
Tỏi (Allium sativum) chứa ít nhất 33 hợp chất chứa lưu huỳnh, nhiều enzym, 17 acid amin và một số khoáng chất như selen. Trong đó, các hợp chất lưu huỳnh là thành phần quan trọng nhất, quyết định mùi đặc trưng và phần lớn tác dụng sinh học của tỏi. Trong tỏi khô có khoảng 1% alliin (S-allyl cysteine sulfoxide). Enzym alliinase hoạt hóa sẽ chuyển alliin thành allicin – một hợp chất có hoạt tính sinh học cao.
Các nghiên cứu cho thấy tỏi có nhiều tác dụng:
- Kháng khuẩn, kháng nấm: phổ rộng trên nhiều vi khuẩn (Escherichia, Staphylococcus, Streptococcus,…) và nấm
- Hạ huyết áp: do allicin ức chế angiotensin II và gây giãn mạch.
- Hạ đường huyết: thông qua cơ chế tăng tiết insulin, tăng nhạy cảm insulin và tác dụng chống oxy hóa
- Chống oxy hóa: Các hợp chất organosulfur trong tỏi có khả năng chống oxy hóa in vivo thông qua: Hoạt hóa các enzym chống oxy hóa như glutathione-S-transferase, catalase; Điều hòa các enzym chuyển hóa như HMG-CoA reductase
- Chống viêm: ức chế cytokine tiền viêm và tăng IL-10 trên in vitro
- Chống xơ vữa động mạch: ức chế tổng hợp lipid, giảm tích lũy cholesterol
- Bảo vệ gan: điều hòa enzym gan.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Chữa viêm họng từ củ tỏi: Tỏi củ 2 tép ( khoảng 3- 4g), hành lá 10g. Cách làm: Giã nát tép tỏi, hành lá thái nhỏ giã nát, trộn đều, buộc (đắp) vào huyệt Hợp cốc ở bàn tay, để qua đêm, dịch tỏi sẽ thấm qua da và kích thích mạnh vào huyệt có tác dụng "tả mạnh" để chữa viêm họng.
Phòng và trị cúm:· Tỏi 3 tép (khoảng 6-8g), Nước 20ml. Cách làm: Tỏi giã nát, nước đun sôi, hãm tỏi trong nước sôi khoảng nửa giờ. Lọc lấy nước, nhỏ vào mũi, mỗi bên khoảng 2 hay 3 giọt, ngày 2 hoặc 3 lần.
Rửa vết thương, chỗ lở loét: Pha loãng 1 phần dịch tỏi và 10 phần nước cất, thêm 2% cồn để bảo quản.
Chữa đau răng: Giã nát 2 tép tỏi trộn với một chút nước ấm. Đợi khoảng 10 phút sau, dùng một que tăm tẩm dịch tỏi thấm đều chung quanh chỗ đau.
Chữa mụn cóc, chai chân: Giã nát 2 tép tỏi, dán gọn vào chỗ bị chai và để qua đêm.














.png)