Bầu (Lagenaria siceraria (Mol.) Standl.) còn được gọi là bầu canh, là loài cây leo hằng năm thuộc họ Bí (Cucurbitaceae) được trồng vô cùng rộng rãi tại Việt Nam và các vùng nhiệt đới để làm thực phẩm. Theo kinh nghiệm dân gian, toàn bộ các bộ phận của cây, từ quả, vỏ, rễ đến hạt và tua cuốn đều là những vị thuốc quý. Hiện nay, y học hiện đại ngày càng quan tâm đến cây bầu nhờ hàm lượng dinh dưỡng cao cùng các hợp chất sinh học thể hiện tiềm năng dược lý phong phú trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe.

Tổng quan
Tên gọi khác: bầu canh
Tên khoa học: Lagenaria siceraria (Mol.) Standl.
Họ thực vật: họ Bầu bí - Cucurbitaceae
Phân bố và sinh thái: cây trồng rộng rãi ở khắp nơi
Đặc điểm thực vật
Cây phân nhánh và leo dọc theo thân cây.
Lá rộng, hình tròn, mép nhẵn, thùy rộng, bề mặt mượt, tán lá được bao phủ bởi lông mềm, nghiền nát có mùi xạ hương hôi.
Hoa mọc đơn độc ở nách lá, màu trắng, hấp dẫn, cánh hoa xòe rộng.
Quả có hình dạng đa dạng, to, tròn hoặc nhỏ dạng chai hoặc thon dài, uốn cong ngoằn ngoèo với chiều dài có thể vượt quá một mét.
Hạt màu nâu nhạt, hình chữ nhật, có khía rãnh ở gần đầu mút.
Mùa hoa quả: tháng 1-7
Bộ phận dùng: toàn cây
Công dụng
Y học cổ truyền
Chữa táo bón, bí tiểu, đái rắt, sỏi thận, phù, sưng tấy, nóng đỏ, hạ sốt, tiêu độc (quả); phù, vàng da (rễ); răng lợi sưng đau, giun và sán sơ mít (hạt); đau đầu (dầu hạt); ngừa đậu, sởi, lở ngứa ở trẻ em (tua cuốn và hoa); trị rắn cắn (lá)
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Cây Bầu (Lagenaria siceraria) chứa nhiều nhóm hợp chất bao gồm terpenoid, flavonoid, sterol, saponin, tannin, alkaloid, lactone và tinh dầu. Dịch chiết từ các bộ phận khác nhau của cây ghi nhận các thành phần khác nhau:
- Quả và dịch ép quả: Chứa các triterpenoid đắng đặc trưng của họ Cucurbitaceae là cucurbitacin B, D, G, H và 22-deoxycucurbitacin. Ngoài ra còn có hai sterol là fucosterol và campesterol, terpene byonolic acid, flavone-C glycoside và hàm lượng cao choline. Theo cơ sở dữ liệu giá trị dinh dưỡng của USDA, 100 g quả Bầu cung cấp 14 kcal năng lượng, 3,39 g carbohydrate, 0,62 g protein, 0,2 g chất béo, 0,5 g chất xơ cùng pectin, vitamin nhóm B, ascorbic acid và beta-carotene. Ngoài ra quả còn chứa nhiều khoáng chất bao gôm Na, K, Mg, P, Ca, Mn, Fe, Selen, Zn
- Hạt: hạt bóc vỏ chứa 35,0 ± 0,48% protein và 39,22 ± 1,48% lipid. Phân tích ghi nhận sự hiện diện của 17 loại acid amin với glutamic acid, leucine và aspartic acid chiếm tỷ lệ cao. Từ hạt còn phân lập được Lagenin (một protein có khối lượng phân tử 20 kDa, cấu trúc bất hoạt ribosome). Dịch phân đoạn chloroform từ hạt qua phân tích GC-MS cho thấy sự hiện diện của hexadecanoic acid, methyl hexadecanoate, isopropyl palmitate, methyl 9,12-octadecadienoate và methyl 9,12,15-octadecatrienoate.
- Lá: Chứa carbohydrate, phytosterol, saponin, phenolic, tannin, protein và flavonoid.
Các nghiên cứu dược lý thực hiện trên cả mô hình in vitro và in vivo đã chứng minh tiềm năng trị liệu phong phú của cây Bầu
- Kháng ung thư và gây độc tế bào: Thử nghiệm dịch chiết methanol từ phần trên mặt đất của cây Bầu (MELS) trên mô hình chuột bị gây ung thư biểu mô cổ trướng Ehrlich (EAC) với các mức liều 200 và 400 mg/kg (uống liên tục 9 ngày) cho thấy hoạt tính kháng ung thư rõ rệt. Dịch chiết giúp ức chế sự phát triển của khối u, kéo dài thời gian sống đáng kể cho chuột thử nghiệm, đồng thời phục hồi các chỉ số huyết học, hóa sinh và nồng độ chất chống oxy hóa trong mô gan tương đương với thuốc đối chứng 5-Fluorouracil (20 mg/kg). Một nghiên cứu khác chỉ ra dịch chiết methanol từ cây Bầu thể hiện khả năng ức chế mạnh sự tăng sinh của dòng tế bào ung thư phổi người (A549) thông qua thử nghiệm MTT (thời gian ủ 72 giờ). Hoạt tính gây độc tế bào phụ thuộc rõ rệt vào nồng độ với giá trị IC50 = 93,094 ± 6,5 µg/mL (đối chứng dương là Cisplatin). Ngoài ra, protein Lagenin (20 kDa) phân lập từ hạt cũng thể hiện hoạt tính kháng u, kháng virus và chống tăng sinh tế bào ung thư mạnh.
- Bảo vệ tim mạch: trên mô hình gây nhồi máu cơ tim do Isoproterenol, Chuột cống trắng được cho uống dịch ép quả Bầu (LSFJ) ở mức liều 400 mg/kg/ngày trong 30 ngày, sau đó được gây nhồi máu cơ tim bằng Isoproterenol (ISO, liều 200 mg/kg tiêm dưới da trong 2 ngày cuối). Kết quả cho thấy LSFJ bảo vệ tim mạch hiệu quả thông qua việc đảo ngược các rối loạn về điện tâm đồ, huyết động học và các enzyme chỉ dấu tổn thương cơ tim trong huyết thanh (alkaline phosphatase, LDH, CK-MB, AST, ALT). LSFJ cũng làm giảm sự peroxide hóa lipid và duy trì hàm lượng các chất chống oxy hóa nội sinh (GSH, GPx, GST, SOD, catalase). Một nghiên cứu khác sử dụng mô hình tiêm ISO (5,25 mg/kg ở ngày 50 và 8,5 mg/kg ở ngày 51) trên chuột Wistar tiền xử lý bằng bột quả Bầu (500 mg/kg, uống trong 51 ngày) chứng minh bột quả ngăn chặn tình trạng tăng nhịp tim và tụt huyết áp do ISO, đồng thời giảm thiểu tổn thương cấu trúc mô học cơ tim. Trên mô hình độc tính tim do Doxorubicin, Tiền xử lý bằng dịch chiết hydro alcohol từ hạt Bầu (liều 200 và 400 mg/kg, uống trong 29 ngày) phối hợp với thuốc hạ lipid máu Simvastatin (15 mg/kg) giúp bảo vệ chuột Wistar chống lại độc tính trên tim gây ra bởi một liều duy nhất Doxorubicin (DOX, 10 mg/kg, tiêm màng bụng). Sự phối hợp này làm giảm đáng kể (P < 0,001) hàm lượng các enzyme chỉ dấu (LDH, CK, CK-MB), tăng tổng lượng protein cùng các chất chống oxy hóa nội sinh (CAT, GSH, SOD), giảm LPO và bảo tồn cấu trúc vi thể cơ tim khỏi sự hủy hoại của DOX.
- Trên chuyển hóa lipid: Thử nghiệm trên chuột cống trắng được gây tăng lipid máu bằng chế độ ăn sinh xơ vữa, việc cho uống dịch ép từ hạt Bầu với liều 200 mg/kg trong vòng 4 tuần làm giảm rõ rệt các chỉ số lipid huyết thanh bao gồm cholesterol tổng số (TC), triglyceride (TG), LDL-C và VLDL-C, đồng thời duy trì nồng độ HDL-C so với nhóm chứng dương. Nghiên cứu khả năng ức chế enzyme lipase tuyến tụy (mục tiêu điều trị béo phì nhằm ngăn chặn sự tiêu hóa và hấp thu chất béo vào cơ thể) cho thấy các phân đoạn chiết xuất từ quả Bầu có hoạt tính phụ thuộc vào nồng độ. Phân đoạn chloroform thể hiện hoạt tính mạnh nhất với giá trị IC50 = 157,59 µg/mL, tiếp theo là phân đoạn ethyl acetate (IC50 = 182,12 µg/mL) và nước sắc (IC50 = 190,00 µg/mL). Hiệu quả này được ghi nhận là gần với thuốc điều trị béo phì chuẩn Orlistat (IC50 = 146 µg/mL).
- Chống sỏi thận: Thử nghiệm bột quả Bầu (LSFP, liều 500 mg/kg, đường uống) trên mô hình chuột cống bị gây sỏi thận bằng Sodium oxalate (NaOx, liều 70 mg/kg tiêm màng bụng) trong 7 ngày cho kết quả chống sỏi thận mạnh tương đương với chế phẩm chuẩn trên thị trường (Cystone, 500 mg/kg). Điều trị bằng LSFP làm đảo ngược đáng kể sự bài tiết ion bất thường, giảm nồng độ và ngăn chặn sự tích tụ, lắng đọng của các tinh thể calcium oxalate (CaOx) vi thể bên trong các ống thận.
- Kháng khuẩn và kháng nấm: dịch chiết quả bầu có hiệu quả trên các chủng vi khuẩn Gram âm và Gram dương bao gồm: Escherichia coli, Enterococcus faecalis, Bacillus subtilis, Klebsiella pneumoniae, Salmonella typhi và Staphylococcus aureus. Ngoài ra, dịch chiết có tác dụng kháng nấm đối với các chủng Aspergillus flavus, Aspergillus oryzae và Trichoderma harzianum.
- Chống oxy hóa: có khả năng loại bỏ DPPH, hydrogen peroxide, gốc superoxide và nitric oxide cũng như ngăn ngừa quá trình peroxy hóa lipid theo cách phụ thuộc vào nồng độ
- Tăng cường miễn dịch: Tác động điều hòa miễn dịch của dịch chiết methanol từ quả L. siceraria đã được nghiên cứu trên chuột. Các phân đoạn khác nhau của L. siceraria được cho chuột uống với liều 100, 200 và 500 mg/kg, làm giảm đáng kể phản ứng quá mẫn muộn. Hiệu giá kháng thể ở cả đáp ứng miễn dịch nguyên phát và thứ phát đều tăng theo liều lượng. Các phân đoạn này cũng làm tăng số lượng bạch cầu và tế bào lympho.
- Chống đái tháo đường: dịch chiết nước từ cuống quả thể hiện hoạt tính ức chế alpha-amylase đáng kể, giúp làm chậm quá trình chuyển hóa tinh bột thành glucose tại ruột non, từ đó hạn chế lượng glucose hấp thu vào máu và hỗ trợ kiểm soát đường huyết. Trên mô hình chuột đái tháo đường, dịch chiết methanol từ phần trên mặt đất của cây giúp cải thiện chuyển hóa lipid, làm giảm peroxy hóa lipid, tăng cường trạng thái chống oxy hóa và góp phần ngăn ngừa hình thành xơ vữa động mạch cũng như các biến chứng của đái tháo đường. Dịch chiết từ thịt quả và hạt còn cải thiện chức năng tế bào tụy, làm tăng khả năng tổng hợp và giải phóng insulin đồng thời làm giảm nồng độ glucose huyết trên chuột gây đái tháo đường bằng alloxan. Ngoài ra, các globulin phân lập từ hạt cho thấy hoạt tính chống tăng đường huyết mạnh, trong đó một protein có khối lượng phân tử 24,61 kDa được cho là peptide hoạt tính chính. Trên bệnh nhân rối loạn lipid máu, dịch chiết quả cũng được ghi nhận làm giảm đáng kể glucose huyết lúc đói.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Đái dắt: quả bầu 50g, rau má 30g, râu ngô 10g, rễ cỏ tranh 20g. Sắc nước uống.
Bí tiểu tiện: quả bầu 200g, hành củ 5 củ cả lá rễ. Sắc nước uống.
Chữa phù thũng: dùng cả quả (vỏ thịt, hạt) sắc với dấm chua lấy nước uống.
Cổ trướng (báng nước): bầu tươi 50-100g đun nước uống. Hoặc phối hợp với vỏ bầu, vỏ bí đỏ, vỏ dưa hấu, vỏ mướp, nấu nước uống.
Viêm gan vàng da - sỏi thận - tăng huyết áp: bầu tươi 500g, giã nhuyễn, vắt nước trộn với 250g mật ong. Ngày uống 2 lần. Mỗi lần 30-50ml.
Chữa táo bón: quả bầu 50g, khoai lang 50g, đường đỏ 30g. Nấu nước uống 3 lần trong ngày. Nếu không đỡ uống liền 5 ngày.
Trị mụn nhọt tái phát hàng năm vào mùa hè ở trẻ em: trái bầu non nấu canh thịt heo nạc với lát gừng, cho trẻ ăn.
Sưng bìu dái căng bóng: trái bầu tươi nấu nước uống, ngậm rửa.
Thủy thũng phù cả mắt cá chân: vỏ quả bầu mới, sao tán bột. Ngày uống 8-10g với nước sắc trần bì lúc đói.
Tiêu chảy ra nước (nhiệt tả): vỏ bầu 1 nắm sao vàng sắc uống.
Đầy bụng không tiêu: vỏ bầu khô hầm trong nồi kín cho thành than tán mịn. Mỗi lần lấy 1 thìa to uống với nước ấm. Cho vài lát gừng càng tốt.
Đái tháo đường: vỏ bầu già khô nấu nước hoặc nướng giòn tán bột để uống.
Phế nhiệt sinh ho: bầu 50g, đun nước uống thay trà trong ngày.
Rong huyết sau đẻ: vỏ bầu già khô (lấy mảnh vỡ cũng được) đập nát đốt thành than tán bột. Uống với nước.
Bệnh ngoài da (lở ngứa, rôm sẩy), phòng sởi đậu ở trẻ em: dùng tua cuốn dây bầu nấu với nước để tắm rửa.
Giải thai độc: dùng tua cuốn và hoa bầu nấu nước uống.
Bổ thận chữa đau lưng: hạt bầu nấu canh bầu dục lợn để ăn cái uống nước.
Viêm lợi miệng, tụt lợi, răng lung lay, sưng mộng răng: hạt bầu 30g, đun nước ngậm, súc miệng.
Sản phụ thiếu sữa: hạt bầu bỏ vỏ sao vàng 40g, đậu đỏ 100g, gạo nếp 100g, nấu cháo ăn hàng ngày. Có thể hầm cùng móng giò lợn.














.png)