Ngâu nhót (Aglaia elaeagnoidea (A. Juss.) Benth.) là loài cây bụi gỗ thuộc họ Xoan (Meliaceae), phân bố tự nhiên trải dài từ các tỉnh miền Bắc vào Nam. Theo y học cổ truyền, quả của cây dùng để chữa viêm và phong hủi. Hiện nay, một số nghiên cứu đã bước đầu làm sáng tỏ tác dụng của loài cây này trên thực nghiệm.

Tổng quan
Tên khoa học: Aglaia elaeagnoidea (A. Juss.) Benth.
Họ thực vật: họ Xoan - Meliaceae
Phân bố và sinh thái: tại Việt Nam, cây có ở một số tỉnh như Hòa Bình, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế (Bạch Mã), Kon Tum (Kon Plông, Măng Cành), Đắk Nông (Đắk Mil, Nam Đà), Lâm Đồng (Di Linh, Bảo Lộc, Đồng Nai (Biên Hòa, Bảo Chánh, Chứa Chan, Trảng Bom), Tp. Hồ Chí Minh (Thủ Đức), Bà Rịa-Vũng Tàu (Côn Đảo), Kiên Giang (Phú Quốc).
Đặc điểm thực vật
Cây bụi gỗ, cao 5-10m, có thể cao tới 20m
Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, phiến lá hình bầu dục hẹp hay hình mũi mác; đỉnh lá tù đến hơi nhọn; gốc lá nhọn hoặc hình nêm.
Hoa mọc thành cụm hoa hình chùm ở nách lá.
Quả mọng, hình cầu màu nâu hoặc đỏ, không nứt
Mùa hoa quả: Hoa tháng 6 – 7, quả tháng 1 – 2 năm sau.
Bộ phận dùng: quả
Công dụng
Y học cổ truyền
Chữa viêm, phong hủi.
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: từ lá và cành đã phân lập được 21 hợp chất terpenoid bao gồm: Sesquiterpenoid (2 chất nhóm cadinene, 4 chất nhóm isodaucane, 1 chất nhóm clovane, 1 chất nhóm aromadendrane và 3 sesquiterpene mới được đặt tên là aglanoidea A–C); Triterpenoid (4 chất nhóm cycloartane, 7 dẫn xuất nhóm dammarane (bao gồm hợp chất mới 20S,24S-epoxy-25-hydroxymethyldammarane-3-one), 1 chất nhóm lupane và 1 chất nhóm oleanane). Từ vỏ thân đã phân lập được Sesquiterpenoid nhóm eudesmane: 5-epi-eudesm-4(15)-ene-1β,6β-diol và 6α-hydroxy-eudesm-4(15)-en-1-one; Triterpenoid nhóm dammarane: 20S,24S-epoxy-25-hydroxydammarane-3-one, 20S,24S-epoxydammarane-3α,25-diol và 3α-epi-cabraleahydroxy lactone. Ngoài ra còn có hơp chất khác bao gồm aglaroxin A, rocaglamide, rocaglaol, dehydroaglaiastatin, 8b-O-5-oxohexylrocaglaol và elaeagnin; các lignan và Limonoid gồm trans-2,3-bis(3,4,5-trimethoxybenzyl)-1,4-butanediol diacetate và trans-3,4-bis(3,4,5-trimethoxybenzyl)tetrahydrofuran (lần đầu tiên ghi nhận trong tự nhiên). Thành phần dinh dưỡng trong quả ghi nhận quả chín chứa hàm lượng lớn carbohydrate (57,10%), protein (52,78%), chất béo (0,80%) và vitamin
Hiện nay, các nghiên cứu về ngâu nhót còn khá hạn chế. Một số nghiên cứu đã chỉ ra tác dụng dược lý của loài cây này:
- Kháng tế bào ung thư: Đối với ung thư gan, thử nghiệm bằng phương pháp màu SRB trên dòng tế bào HepG2 đối với các dẫn xuất rocaglamide ghi nhận hoạt tính ức chế mạnh. Cụ thể, dehydroaglaiastatin, 8b-O-5-oxohexylrocaglaol và rocaglaol đạt giá trị nồng độ ức chế 50% (IC₅₀) lần lượt là 0,69 μM, 4,77 μM và 7,37 μM. Đối với ung thư cổ tử cung (HeLa) và Ung thư tuyến tiền liệt (DU145), trong số các triterpenoid nhóm dammarane chiết xuất từ vỏ thân, hợp chất 20S,24S-epoxydammarane-3α,25-diol thể hiện hoạt tính kháng tế bào ung thư cao hơn so với các chất còn lại trong cùng phân đoạn.
- Chống oxy hóa: Dịch chiết từ quả chín của cây Ngâu nhót qua phép thử quét gốc tự do DPPH có khả năng khử và dập tắt các gốc tự do ngoại sinh ở mức độ cao. Các hợp chất aglanoidea C cùng hai hợp chất đã biết khác biểu hiện khả năng ức chế sản sinh Nitric Oxide (NO) trên mô hình tế bào đại thực bào bị kích thích gây viêm, với giá trị IC₅₀ dao động trong khoảng từ 53,7 đến 72,5 μM.
- Diệt ấu trùng muỗi: Dịch chiết nước từ lá Aglaia elaeagnoidea có tác dụng đối với 3 chủng muỗi truyền bệnh: Culex quinquefasciatus, Aedes aegypti (muỗi vằn) và Anopheles stephensi. Dịch chiết thô có hoạt tính diệt ấu trùng ở mức trung bình với giá trị LC₅₀ đối với muỗi An. stephensi là 207,06 μg/mL, Ae. aegypti là 229,79 μg/mL và Cx. quinquefasciatus là 246,43 μg/mL.
Diệt côn trùng và ức chế sinh trưởng dịch hại: Hợp chất aglaroxin A chiết xuất từ cây Ngâu nhót là một chất độc tiêu hóa và chất chống ăn mạnh đối với các loài sâu hại thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) bao gồm sâu đục quả bắp (Helicoverpa armigera) và sâu khoang (Spodoptera litura)
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Ở Ấn Độ, quả của loại cây này được cho là có tính se và làm mát, dùng trong điều trị viêm nhiễm và sốt; hạt của loại cây này có tác dụng trong điều trị chứng tiểu buốt.














.png)