Chạc ba (Allophylus cobbe (L.) Raeusch.) hay còn gọi là lù mù hoặc Ngoại mộc nam là loài cây bụi cao 1–2m thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae). Cây đặc trưng với cụm lá gồm 3 lá chét mọc chụm, chùm hoa đứng màu trắng nhỏ li ti và quả hình cầu đường kính 4–5mm ngả vàng khi chín. Loài cây này đang ngày càng thu hút sự quan tâm bởi các tác dụng tiềm năng của chúng.

Tổng quan
Tên gọi khác: lù mù, Ngoại mộc nam
Tên khoa học: Allophylus cobbe (L.) Raeusch.
Họ thực vật: họ Bồ hòn - Sapindaceae
Phân bố và sinh thái: Chạc ba được tìm thấy ở Thái Lan, Campuchia, Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka và Việt Nam. Tại nước ta, cây phân bố ở Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đặc điểm thực vật
Cây bụi cao 1 - 2m, nhánh tròn, có nhiều lỗ bì.
Lá có 3 lá chét không lông, lúc khô có màu lục nâu, gân bên 5 - 6 đôi.
Chùm hoa đứng cao 10cm; hoa nhỏ, lá đài xanh; cánh hoa 5, màu trắng, ngắn hơn đài, đầu có 2 - 3 thùy, vẩy mang nhiều lông; trụ nhị nhụy ngắn; nhị 8, không lông; bầu có lông dày trắng, 2 ô; đĩa mật vàng.
Quả vàng, đường kính 4 - 5mm.
Mùa hoa quả: tháng 7-9
Bộ phận dùng: lá
Công dụng
Y học cổ truyền
Thuốc liền gân (Lá giã hơ nóng đắp).
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Cây Chạc ba (Allophylus cobbe) chứa nhiều nhóm hợp chất bao gồm terpenoid, saponin, alkaloid, flavonoid, tannin, glycoside và phenolic. Hàm lượng phenolic tổng số trong dịch chiết nước của lá đạt 91,96 ± 0,61 mg/g GAE (đương lượng acid gallic). Hàm lượng polyphenolic trong lá thu được đạt 63,20 mg đương lượng acid tannic/g và 17,39 mg đương lượng quercetin/g đối với flavonoid tổng số. Một số hợp chất phân lập từ lá qua phân tích HPLC và GC-MS bao gồm: (+)-catechin hydrate, (-)-epicatechin, quercetin, caffeic acid và p-coumaric acid, 1,1-diethoxy ethane, diterpene alcohol phytol, hexanoic acid, 5-hydroxy-8-methyltocotrienol
Các thử nghiệm dược lý in vitro và in vivo đã chứng minh tiềm năng y học đa dạng của cây Chạc ba, làm sáng tỏ các ứng dụng trong y học cổ truyền.
- Kháng ung thư và gây độc tế bào: Đối với tế bào ung thư tuyến tiền liệt người (DU-145 và PC-3), dịch chiết lá Chạc ba thể hiện độc tính tế bào chọn lọc phụ thuộc vào liều lượng. Giá trị IC50 được ghi nhận lần lượt là 431,10 ± 15,05 µg/mL đối với dòng DU-145 và 362,08 ± 24,17 µg/mL đối với dòng PC-3 (trong khi chất đối chứng paclitaxel có IC50 = 0,3 µM/mL). Đáng chú ý, dịch chiết này hoàn toàn không gây độc đối với dòng tế bào bình thường (mô xơ phôi chuột MEF-L929). Sự thay đổi hình thái tế bào ung thư dưới kính hiển vi chứng minh cơ chế gây độc liên quan trực tiếp đến việc kích hoạt quá trình chết theo chương trình (apoptosis). Đối với dòng tế bào ung thư vú chuột (C127I), dịch chiết methanol từ lá thể hiện hoạt tính kháng tăng sinh mạnh mẽ với mức ức chế cực đại ở nồng độ 320 µg/mL. Giá trị IC50 đạt 64,63 µg/mL cho hiệu quả tương đương với doxorubicin. Thử nghiệm nhuộm huỳnh quang kép Acridine Orange/Ethidium bromide (AO/EB) chứng minh dịch chiết làm tế bào chuyển từ tín hiệu xanh lục sang cam đỏ, khẳng định cơ chế kích hoạt apoptosis tế bào bướu.
- Bảo vệ gan: Dịch chiết ethanol từ lá Chạc ba có khả năng bảo vệ gan trên mô hình chuột Wistar bị gây tổn thương gan cấp và mạn tính bởi hóa chất độc hại. Dịch chiết giúp phục hồi đáng kể các chỉ số hóa sinh trong huyết thanh và mô gan, hiệu quả tương đương với chất chuẩn nồng độ cao silymarin. Phân tích giải phẫu bệnh cho thấy cấu trúc tiểu thùy gan được bảo tồn và định hình bình thường.
- Giảm đau: Thử nghiệm trên mô hình gây quặn đau bằng acid acetic và mô hình đĩa nóng ở chuột cho thấy dịch chiết ethanol từ lá (mức liều 250 và 500 mg/kg) có khả năng ức chế cơn đau mạnh. Ở thử nghiệm đĩa nóng, mức liều 250 mg/kg làm tăng thời gian chịu đựng (thời gian liếm chân sau) lên 35,31% ở giờ thứ 3, gần tương đương với thuốc giảm đau ngoại vi chuẩn diclofenac sodium (42,73%). Ở thử nghiệm gây quặn đau bằng acid acetic, tỷ lệ ức chế phản ứng quặn đau đạt tới 85,96% (250 mg/kg) và 78,07% (500 mg/kg) cao hơn hẳn so với thuốc đối chứng (66,67%).
- Chống viêm: Trên mô hình gây phù nề bàn chân chuột bằng carrageenan, dịch chiết lá có tác dụng kháng viêm rõ rệt. Tỷ lệ ức chế phù nề mạnh nhất đạt 58,88% ở mức liều 250 mg/kg tại giờ thứ 3 của phản ứng viêm.
- Chống oxy hóa: Dịch chiết Chạc ba thể hiện khả năng quét gốc tự do mạnh, tăng dần theo nồng độ thử nghiệm. Ở thử nghiệm DPPH, dịch chiết ethanol từ lá ở nồng độ 200 µg/mL đạt tỷ lệ ức chế lên tới 91,53% gần tương đương với chất chuẩn ascorbic acid đạt 99,3%. Ở một thử nghiệm khác, dịch chiết nồng độ thấp 0,01% vẫn đủ khả năng tạo ra 32,78% hoạt tính quét gốc tự do. Thử nghiệm khả năng quét gốc tự do ABTS sử dụng chất chuẩn ascorbic acid và Trolox cho thấy hoạt lực chống oxy hóa của dịch chiết cây cao hơn rõ rệt so với hoạt tính khử sắt (FRAP). Dịch chiết nước đạt hoạt tính tối đa ở nồng độ 100 mg/mL, đạt 64,71 ± 0,15%.
- Kháng khuẩn: Dịch chiết nước và ethanol lá non từ Chạc ba có khả năng kháng khuẩn đối với các chủng vi khuẩn Gram dương như Bacillus subtilis và Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng). Hiệu quả kháng khuẩn của dịch chiết đối với B. subtilis được ghi nhận tương đương và có tiềm năng thay thế kháng sinh chuẩn cefotaxime. Dịch chiết methanol từ lá và vỏ thân kém hiệu quả hơn đối với các chủng vi khuẩn Gram âm và hoàn toàn không có hoạt tính đối với các chủng nấm sợi.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Lá chạc ba phối hợp với một vị thuốc khác được dùng làm dễ đẻ trong trường hợp khó đẻ. Nước hãm rễ được uống để nhuận tràng.
Lá và vỏ được dùng làm thuốc đắp trị thâm tím. Dịch ép từ lá làm thuốc trị bệnh nấm Candida. Lá còn được giã nát, hơ nóng đắp để chữa bong gân.
Rễ luộc đắp vào bụng trị đau dạ dày.














.png)