Cỏ may (Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin.) là loài cây thảo sống lâu năm thuộc họ Lúa (Poaceae) mọc hoang dại phổ biến khắp nơi. Theo y học cổ truyền, toàn cây cỏ may được sử dụng như một vị thuốc có tính mát giúp thanh nhiệt, lợi thấp. Hiện nay, loài cây này bước đầu đang được nghiên cứu để đánh giá các tác dụng dược lý trên thực nghiệm.

Tổng quan

Tên khoa học: Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin. 

Họ thực vật: họ Lúa - Poaceae

Phân bố và sinh thái: Phổ biến ở nhiều nơi. Cây ưa sáng, có khả năng chịu hạn tốt,  thích nghi được với nhiều loại đất khác nhau. Khi mọc thường mọc thành thảm dày, khó phân biệt được từng cá thể.

Đặc điểm thực vật

Cây thảo, kích thước nhỏ, có khả năng sống lâu năm, cao khoảng 20 đến 60cm.

Thân rễ dài, mọc bò, mảnh, phân nhánh.

Lá Cỏ May xếp thành 2 dãy, gốc tròn, đầu thuôn nhọn, lá xếp sát nhau hình dải. Mép lá uốn lượn. Bẹ nhỏ, mềm.

Cụm hoa dạng chùy kéo, mọc dài trên một cán mảnh, thẳng đứng. Cán dài từ 10 đến 20cm. Mỗi nhánh mang một bông hoa nhỏ lưỡng tính và hai bông hoa trung tính hoặc hoa đực. Bông hoa lưỡng tính không có cuống, có lông, hình dải, nhị 3. Bông hoa đực nhẵn, hẹp.

Quả hình dải.

Mùa hoa: tháng 4-12.

Bộ phận dùng: toàn cây

Công dụng

Y học cổ truyền

Cỏ May có vị ngọt, hơi đắng, tính mát. Tác dụng: Thanh nhiệt, lợi thấp.

Y học hiện đại

Thành phần hóa học: Nghiên cứu định tính sơ bộ cho thấy dịch chiết Cỏ may chứa nhiều nhóm hợp chất bao gồm: Flavonoid, Tannin, Alkaloid, Saponin, Terpenoid và Glycoside.Một số hợp chất đã phân lập được bao gồm Aciculatin, nudaphantin, DIMBOA(2,4-dihydroxy-7-methoxy-(2H)-1,4-benzoxazin-3(4H)-one), 5α,8α-epidioxyergosta-6,22-diene-3β-ol (Ergosterol peroxide), Tricin, Campesterol, Gamma-oryzanol, và Citronellyl isobutyrate.

Hiện nay các nghiên cứu về tác dụng dược lý của cỏ may còn rất hạn chế:

  • Giảm đau: Thử nghiệm trên mô hình chuột Swiss bằng dịch chiết ethanol toàn cây cho thấy Cỏ may có khả năng giảm đau qua cả 2 cơ chế: ngoại vi (giảm đau do viêm) và trung ương (giảm đau do thần kinh). Giảm đau ngoại vi (Mô hình gây quặn đau bằng Axit axetic): Với liều 500 mg/kg và 750 mg/kg, dịch chiết ức chế đáng kể số cơn quặn đau ở chuột nhờ cơ chế ngăn chặn quá trình sinh tổng hợp Prostaglandin. Hiệu quả này tương đương với thuốc đối chứng Diclofenac sodium (25 mg/kg). Giảm đau trung ương (Mô hình đĩa nóng 55°C): Dịch chiết làm kéo dài thời gian chịu đựng nhiệt độ của chuột (liếm chân hoặc nhảy) rõ rệt theo liều lượng. Tác dụng đạt đỉnh ở phút thứ 90, thể hiện cơ chế giảm đau hướng trung ương (tương tự receptor opioid) dù ở mức độ vừa phải khi so với Morphine (25 mg/kg).
  • Kháng viêm: Nghiên cứu năm 2024 tại Philippines đã đánh giá khả năng kháng viêm của từng bộ phận (Rễ, Thân, Lá, Cụm hoa/Hạt) thông qua phương pháp biến tính albumin (ngăn chặn sự biến đổi cấu trúc protein - một dấu hiệu của phản ứng viêm). Rễ, thân và lá đều thể hiện khả năng ức chế biến tính protein phụ thuộc vào nồng độ (trừ cụm hoa không thể hiện rõ). Chiết xuất từ Rễ ở nồng độ 100mcg/mL cho khả năng ức chế biến tính protein cao nhất, đạt 78.18%, tiếp theo sau đó là thân và lá.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

Nhân dân ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh thường sử dụng Cỏ may để chữa các bệnh lý liên quan đến gan. Cách dùng: Dùng toàn cây Cỏ may (bao gồm cả rễ), rửa sạch, thái nhỏ, sao vàng, sắc với 500 mL nước đến khi còn 250 mL, chia uống nhiều lần trong ngày; dùng liên tục 4–5 ngày.

Nhân dân vùng Thừa Thiên – Huế lại sử dụng Cỏ may để chữa giun đũa. Cách dùng: Dùng 20g quả Cỏ may sao vàng, sắc với 500mL nước, lọc bỏ bã, đun đến khi còn 150 mL, uống hết sau bữa ăn.

Theo Tuệ Tĩnh, rễ Cỏ may có tác dụng chữa khí hư. Cách dùng: Dùng 40 g rễ Cỏ may, rửa sạch, phơi khô, băm nhỏ, sắc với 200 mL nước đến khi còn 50 mL, uống lúc đói.

Chữa cảm mạo, tiểu tiện khó khăn, sốt, viêm đường hô hấp trên: Cỏ May, Tam Trúc Diệp, mỗi vị 15g, 9g Hồ Lô Trà, sắc lấy nước uống 3 lần trong ngày. 

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)