Hương phụ (Cyperus rotundus L.) là loài cây thuộc họ Cói (Cyperaceae), mọc hoang phổ biến ở nhiều nơi như đồng ruộng, ven đường tại Việt Nam và nhiều nước châu Á. Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, thân rễ của cây được sử dụng rộng rãi với mục đích điều hòa khí huyết, giảm đau và hỗ trợ điều trị các rối loạn tiêu hóa, kinh nguyệt. Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu hiện đại đã làm rõ thành phần hóa học cùng các tác dụng dược lý đa dạng của hương phụ, từ đó góp phần khẳng định giá trị và tiềm năng ứng dụng của loài cây này trong chăm sóc sức khỏe.

Tổng quan
Tên gọi khác: cỏ gấu
Tên khoa học: Cyperus rotundus L.
Họ thực vật: họ Cói- Cyperaceae.
Phân bố và sinh thái: Mọc hoang ở khắp nơi trên đồng ruộng, ven đường. Tại ven biển, đất cát xốp cũ to hơn, dẻ đào hơn. Đối với nhà nông, đây là một loại cỏ rất khó tiêu diệt. Chỉ cần sót lại một mẫu thân rễ nhỏ cũng đủ phát triển. Còn thấy mọc những ở nước khác vùng châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Inđônêxia.
Đặc điểm thực vật
Loại cỏ sống lâu năm, cao 20- 60cm, thân rễ phát triển thành củ, tùy theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ, ở vùng bờ biển cả to dài còn gọi là hải hương phụ (hương phụ vùng biển).
Lá nhỏ hẹp, ở giữa lưng có gần nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây.
Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu, hoa lưỡng tính, 3 nhị dài chừng 2mm, nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ.
Quả 3 cạnh màu xám.
Bộ phận dùng: thân rễ
Công dụng
Y học cổ truyền
Vị cay, hơi đắng, ngọt, vào hai kinh can và tam tiêu. Có tác dụng lý khí, giải uất, điều kinh, chỉ thống (làm hết đau), chữa khí uất, ung thư, ngực bụng chướng đau.
Y học hiện đại
Nhiều nghiên cứu cho thấy Cyperus rotundus chứa tinh dầu là thành phần chính, giàu sesquiterpen như α-cyperone, cyperene, cyperol, cyperotundone, β-selinene… Ngoài ra còn có flavonoid, polyphenol, alkaloid, tannin, glycosid, cùng triterpen (acid oleanolic), sterol (β-sitosterol) và acid béo (linoleic, linolenic…).
Các nghiên cứu thực nghiệm và tổng quan cho thấy C. rotundus có nhiều tiềm năng:
- Chống viêm: Dịch chiết ethanol 70% và dịch chiết ether dầu hỏa từ thân rễ Cyperus rotundus cho thấy tác dụng chống viêm trên mô hình gây phù bằng carrageenan và viêm khớp do formaldehyde ở chuột cống. Cơ chế được ghi nhận liên quan đến việc ức chế sản xuất các chất trung gian viêm như NO và O₂⁻ trong tế bào RAW 264.7 theo kiểu phụ thuộc liều và thời gian.
- Hạ sốt: Dịch chiết cồn của Cyperus rotundus có tác dụng hạ sốt trên mô hình gây sốt bằng nấm men bia ở chuột với hiệu lực tương đương acid acetylsalicylic ở một số phân đoạn.
- Giảm đau: Dịch chiết ether dầu hỏa và tinh dầu từ thân rễ được ghi nhận có tác dụng giảm đau, trong đó một số thành phần terpenoid cho hiệu quả tương tự acid acetylsalicylic
- An thần: Dịch chiết ethanol làm giảm hoạt động vận động tự phát, tăng thời gian gây ngủ của pentobarbital và làm mất phản xạ né tránh có điều kiện trên mô hình động vật
- Chống co giật: Ở liều 100 mg/kg, dịch chiết làm giảm thời gian và mức độ co giật với hiệu quả so sánh được với phenytoin và diazepam.
- Chống nôn: Dịch chiết ethanol với liều khoảng 128,1 ± 11,6 mg/kg có khả năng bảo vệ 50% số chó khỏi nôn do apomorphine gây ra.
- Chống co thắt cơ trơn: Dịch chiết ethanol gây giãn cơ trơn hồi tràng thỏ và ức chế co thắt do acetylcholine, BaCl₂ và 5-HT
- Bảo vệ dạ dày: Dịch chiết và dạng sắc của thân rễ có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày trên mô hình gây tổn thương bằng ethanol và thiếu máu cục bộ – tái tưới máu ở chuột
- Chống tiêu chảy: Dịch chiết methanol thân rễ (250–500 mg/kg) làm giảm tiêu chảy do dầu thầu dầu gây ra ở chuột
- Hạ huyết áp: Dịch chiết cồn gây giảm huyết áp từ từ và kéo dài, đồng thời kích thích hô hấp
- Hạ lipid máu: Dịch chiết Cyperus rotundus làm giảm cholesterol toàn phần, LDL, triglycerid và tăng HDL trên mô hình chuột ăn giàu lipid.
- Bảo vệ gan: Dịch chiết ethyl acetat (100 mg/kg) làm giảm các chỉ số enzym gan (GOT, GPT, ALP, bilirubin) trên mô hình gây độc gan bằng carbon tetrachloride ở chuột.
- Hạ đường huyết: Dùng dịch chiết (500 mg/kg/ngày) trong 7 ngày làm giảm glucose máu trên mô hình chuột gây đái tháo đường bằng alloxan; tác dụng được liên hệ với hoạt tính chống oxy hóa và ức chế quá trình glycation.
- Kháng khuẩn, kháng nấm: Dịch chiết ethanol và tinh dầu cho thấy hoạt tính kháng khuẩn in vitro bằng phương pháp khuếch tán trên thạch, tác dụng trên các vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis, Salmonella enteritidis. Tinh dầu cũng có hoạt tính kháng nấm trên Candida albicans.
- Chống sốt rét: Các sesquiterpen từ thân rễ thể hiện hoạt tính in vitro trên Plasmodium falciparum (bao gồm chủng kháng thuốc K1).
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng khi hành kinh, huyết áp cao: Hương phụ, ích mẫu, ngải cứu, bạch đồng nữ mỗi vị 3g. Sắc với nước, chia làm 3 lần uống trong ngày. Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh (Thuốc hương ngải).
Chữa kinh nguyệt không đều, kinh đến muộn, bụng dưới tức đau, lúc hành kinh có cục máu tím: Đương quy 10g, thược dược 10g,Hương phụ 5g, xuyên khung 5g, ô dược 7g, ngải diệp 3g. Sắc lấy nước uống.
Chữa băng huyết, rong huyết: Củ gấu sao đen tán bột, mỗi lần uống 6g, ngày 2 lần.
Chữa tiêu hóa kém: Củ gấu sao (hương phụ sao ) 12g, vỏ quýt sao 12g, vỏ vối sao 12g, vỏ rụt sao 16g, chỉ xác 12g. Sắc nước uống, nếu có kèm tiêu chảy thêm củ riềng 8g, búp ổi 12g.
Chữa dạ dày lạnh đau, nôn, ợ ra nước trong: Hương phụ 5g, can khương 3g, mộc hương 3g, khương bán hạ 10g, sắc nước uống.
Chữa hội chứng dạ dày: Hương phụ 6g, sài hồ 12g, thanh bì 8g, rau má 12g, chỉ xác 6g, trần bì 6g. Sắc nước, ngày 3 lần uống trước bữa ăn vào sáng, trưa, chiều.














.png)