Bàn tay ma (Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer) là loài cây gỗ thuộc họ Quắn hoa (Proteaceae). Ở Việt Nam, cây được sử dụng trong kinh nghiệm dân gian của một số cộng đồng dân tộc để hỗ trợ điều trị đau nhức, thấp khớp và một số bệnh lý về gan. Những năm gần đây, các nghiên cứu về thành phần hóa học và dược lý đã bước đầu ghi nhận tiềm năng chống oxy hóa, bảo vệ gan và một số hoạt tính sinh học khác của loài này.

Tổng quan

Tên gọi khác: Thuốc mẹ

Tên khoa học: Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer

Họ thực vật: Proteaceae – Họ Quắn hoa

Phân bố và sinh thái: Phạm vi bản địa được xác nhận chắc chắn của H. lobata là Việt Nam và đảo Hải Nam (Trung Quốc); loài chủ yếu thuộc sinh cảnh cận nhiệt đới. Cây sống trong rừng mưa nhiệt đới, ở độ cao dưới khoảng 800 m, mọc tự nhiên trong rừng già.

Đặc điểm thực vật

Bàn tay ma là cây gỗ, thường cao khoảng 5–20 m. Cành non và lá non có lông màu gỉ sắt áp sát. Lá có tính dị hình khá rõ, đây là đặc điểm dễ khiến việc nhận diện ngoài thực địa nhầm lẫn. Lá có thể nguyên hoặc xẻ thùy sâu; cuống lá khoảng 4–8 cm. Phiến lá dai, gốc hình nêm, mép nguyên, đầu nhọn ngắn. Lá nguyên thường hình thuôn, khoảng 10–25 × 5–7 cm; dạng lá xẻ có thể lớn tới 20–60 × 20–40 cm, với khoảng 2–8 đôi thùy.

Cụm hoa mọc trên cành, có lông; hoa đơn tính, bao hoa màu vàng nhạt. Cụm hoa đực thường dài hơn cụm hoa cái. Bầu hình trứng, nhẵn; vòi nhụy khoảng 8 mm. Quả màu xanh vàng, hình elip đến hình trứng–elip, hơi dẹt, kích thước được Flora ghi nhận khoảng 7–9 × 5–6 cm. Cây thường ra hoa khoảng tháng 5–7, quả chín tháng 11–12.

Đặc điểm lá lớn, xẻ sâu thành nhiều thùy giống hình bàn tay là nguồn gốc của tên gọi dân gian “Bàn tay ma”.

Công dụng

Y học cổ truyền

Bàn tay ma được dùng chữa đau nhức, thấp khớp; dùng sắc uống hoặc nấu nước tắm cho phụ nữ sau sinh để giảm đau nhức, phục hồi sức khỏe; tại một số địa phương còn được sử dụng hỗ trợ các bệnh về gan.

Y học hiện đại

Các hợp chất trong lá:

  • Nghiên cứu công bố trên Chinese Journal of Chinese Materia Medica đã phân lập từ lá H. lobata bảy hợp chất gồm myricetin, myricitrin, syringetin-3-O-β-D-glucopyranoside, medioresinol, D-1-O-methyl-myo-inositol, hydroquinone và β-sitosterol.
  • Một nghiên cứu khác phát hiện các phenolic glycoside dẫn xuất của arbutin, trong đó có 6′-[(E)-2″-hydroxymethyl-2″-butenoyl] arbutin cùng các dẫn xuất hydroxycinnamoyl và dihydroxycinnamoyl arbutin.
  • Năm 2008, một phenolic glucoside ester mới là 6′-E-(2″-methyl-2″-butenoyl) arbutin cũng được phân lập từ lá.

Thành phần trong phần gỗ:

  • Các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam đã đi sâu hơn vào phần gỗ thân và cành. Luận án của Bùi Văn Trung xác định 14 hợp chất từ H. lobata, trong đó có một hợp chất mới được đặt tên helilobatoside A.
  • Đặc biệt, trong pha nước của phần gỗ đã xác định isotachioside, tachioside và 3,5-dimethoxy-4-hydroxy-1-β-D-glucopyranoside. Hợp chất sau, ký hiệu HL11, được nghiên cứu như một chất đánh dấu hóa học định hướng tác dụng bảo vệ gan.

Tác dụng dược lý:

  • Tác dụng bảo vệ gan: Đây là tác dụng có bằng chứng thực nghiệm đáng chú ý nhất hiện nay. Nghiên cứu của Bùi Văn Trung và cộng sự trên mô hình chuột nhắt gây tổn thương gan bằng paracetamol cho thấy cao chiết nước phần gỗ H. lobata có tác dụng bảo vệ gan, thể hiện qua cải thiện ALT, AST, TBARs và hình ảnh đại thể gan. Các liều thấp hơn trong nghiên cứu cho kết quả tốt hơn; tác giả kết luận cao chiết nước Bàn tay ma đỏ có tác dụng bảo vệ gan tương đối tốt trên mô hình thử nghiệm.
  • Chống oxy hóa: Hợp chất HL11 – 3,5-dimethoxy-4-hydroxy-1-β-D-glucopyranoside – thể hiện khả năng quét gốc tự do DPPH và chống peroxid hóa lipid. Trong nghiên cứu của luận án, IC₅₀ tương ứng khoảng 6,07 ± 0,17 µg/mL đối với phép thử DPPH và 89,55 ± 8,26 µg/mL đối với mô hình peroxid hóa lipid.
  • Bảo vệ tế bào gan: Trên tế bào HepG2 bị gây độc bằng CCl₄, HL11 là hợp chất thể hiện tác dụng bảo vệ gan nổi bật nhất trong nhóm được khảo sát, với EC₅₀ khoảng 95,68 µg/mL.
  • Hoạt tính liên quan đến viêm: HL11 có khả năng ức chế sự sản sinh NO của đại thực bào RAW264.7 với IC₅₀ khoảng 76,49 ± 2,46 µg/mL và làm thay đổi một số cytokine như IL-6 và IL-10 trong điều kiện thí nghiệm. Vì vậy, tác dụng bảo vệ gan của hợp chất này được giả thiết có liên quan cả chống oxy hóa và điều hòa đáp ứng viêm.
  • Độc tính và vấn đề an toàn: Trong thử nghiệm độc tính cấp, cao chiết nước Bàn tay ma đỏ ở liều tối đa có thể cho chuột uống là 32,60 g cao/kg thể trọng chưa biểu hiện độc tính cấp rõ. Đáng chú ý hơn, một số hợp chất phân lập từ phần nước, gồm HL11, HL13 và HL14, đã biểu hiện độc tính trên dòng tế bào HEK-293A ở những nồng độ nhất định; riêng HL11 có IC₅₀ khoảng 16,58 µg/mL.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

Đau nhức, thấp khớp: Đồng bào Dao sử dụng toàn thân Bàn tay ma phơi hoặc sấy khô, sắc lấy nước uống theo kinh nghiệm địa phương để chữa đau nhức, thấp khớp.

Tắm sau sinh: Dược liệu được nấu lấy nước dùng tắm cho phụ nữ sau sinh, với mục đích giảm đau nhức và giúp cơ thể phục hồi.

Sử dụng trong bệnh gan: Phần thân/cành hoặc toàn cây khô được sắc uống theo kinh nghiệm tại một số vùng miền núi phía Bắc.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)