Dây lức (Phyla nodiflora (L.) Greene) còn được biết đến với tên gọi sài đất giả là loài cây thảo sống nhiều năm thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), mọc bò lan và phân nhánh, phổ biến từ Bắc vào Nam. Trong y học cổ truyền, toàn cây dây lức được xem là vị thuốc hữu hiệu chữa cảm sốt, viêm lợi có mủ, ho ra máu, kiết lỵ và các bệnh ngoài da như zona, eczema. Hiện nay, nghiên cứu về hóa thực vật và các tác dụng dược lý của loài cây này khá phong phú, chứng minh giá trị dược liệu cũng như tiềm năng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

Tổng quan
Tên gọi khác: sài đất giả
Tên khoa học: Phyla nodiflora (L.) Greene
Tên đồng danh pháp: Verbena nodiflora L., Lippia nodiflora L., Phyla chinensis Lour
Họ thực vật: họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae
Phân bố và sinh thái: phổ biến từ Bắc vào Nam
Đặc điểm thực vật
Cây thảo sống nhiều năm, bò lan trên mặt đất và phân nhánh nhiều.
Thân cây gần như có hình vuông, bề mặt nhẵn hoặc hơi có lông mịn, xuất hiện các rãnh chạy dọc, thường màu đỏ tím nhạt và có khả năng bén rễ tại các đốt.
Lá cây mọc đối xứng, với phiến lá kéo dài từ cuống xuống tận gốc, đầu tù, hơi nhọn, kích thước dài 2 – 3,5 cm và rộng 0,7 – 2,5 cm. Mép lá chia thành 4 – 5 đôi răng sâu tập trung ở phần nửa đầu lá. Cuống rất ngắn hoặc hầu như không có.
Hoa: nhỏ, màu trắng hoặc xanh lơ nhạt, mọc thành cụm hình cầu ở nách lá, sau đó kéo dài ra. Cuống cụm hoa dài 2 – 3 cm. Đài và tràng hoa chia thành hai môi không đều nhau, với ống tràng mảnh hình trụ. Hoa có bốn nhị ngắn, không đồng đều, bầu hoa nhẵn, chia thành hai ô, mỗi ô chứa một noãn.
Quả có dạng nang, hình trứng, màu nâu đen và nhẵn bóng.
Mùa hoa quả: tháng 4-8
Bộ phận dùng: toàn cây
Công dụng
Y học cổ truyền
Chữa cảm sốt, viêm hạnh nhân cấp, viêm lợi có mủ, đau răng, ho và ho ra máu, lỵ, chấn thương bầm dập, zona, eczema mạn tính, bỏng (cả cây); dị ứng và rối loạn tiêu hóa ở trẻ em (cành lá)
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Kết quả sàng lọc hóa thực vật sơ bộ cho thấy phần trên mặt đất của cây dây lức chứa flavonoid, steroid, glycosid, alkaloid, terpenoid, quinol, quinol glycosid, steroid, phenylpropanoid, nhựa, tinh dầu, tanin và các hợp chất phenolic. Nhiều hợp chất đã được phân lập từ cây bao gồm:
- Flavonoid: nodifloretin (hay 6-hydroxy-3'-methoxyluteolin hoặc batatifolin), 6-hydroxyluteolin-7-O-apioside, luteolin-7-O-glucoside, eupafolin, hispidulin-7-sulfate, hispidulin-7,4'-disulfate, jaceosidin-7,4'-disulfate, nepetin-3',4'-disulfate, nodifloretin-6,7-disulfate, 6-hydroxyluteolin-6,7-disulfate, nodifloretin-7-sulfate, 6-hydroxyluteolin-6-sulfate, 6-hydroxyluteolin-7-sulfate, jaceosidin-7-sulfate, nepetin-7-sulfate, hispidulin-4'-sulfate, hispidulin, jaceosidin, lippiacian, demethoxycentaureidin (hay 5,7,3'-trihydroxy-6,4'-dimethoxy flavone), ganzalitosin I (hay 5-hydroxy-3',4’,7-trimethoxy flavone), 3,7,4',5'-tetrahydroxy-3'-methoxyflavone, 4'-hydroxywogonin, onopordin, cirsiliol, larycitrin và 5,7,8,4'-tetrahydroxy-3'-methoxyflavone.
- Phytosterol: β-sitosterol glucoside, stigmasterol glucoside, β-sitosterol, 4',5'-dimethoxybenzoloxystigmasterol và stigmasterol.
- Triterpen: 3β-19α-dihydroxy-urs-1,20-(30)-diene, ursolic acid, pomolic acid và lippiacin.
- Quinol: halleridone (hay benzofuranone renglyolone) và hallerone.
- Iridoid: loganin và catalpol.
- Steroid: 4',5’-dimethoxybenzoloxystigmasterol và beta-sitosterol.
- Phenylethanoid glycosid: arenarioside, acteoside, verbascoside và 2'-O-acetylechinacoside.
- Nhựa: α-copaene và β-bisabolene.
- Tinh dầu: 1-methyl-4-isopropylcyclohexane (7,8%), 1-octen-3-ol (15,29%), 1-octen-3-one (<1,0%), 2-phenethyl alcohol (16,40%), 2,6-dimethyloctane (12,3%), 3-octanol (3,95%), 6-methyl-3,5-heptadien-2-one (1,65%), α-terpineol (4,86%), β-pinene (8,1%), γ-terpinene (6,3%), p-cymen-β-ol (10,61%), benzaldehyde (6,80%), benzyl alcohol (2,59%), carvacrol (3,22%), carvone (<1,0%), dihydrobenzofuran (<1,0%), eugenol (<1,0%), linalool (13,79%), methyl salicylate (10,63%), phenylacetaldehyde (2,68%), terpinolene (1,5%), thymol (2,74%), α-copaene (8,4%), 4,10-dimethyl-7-isopropyl-bicyclo-[4.4.0]-1,4-decadiene (4,8%), α-bergamotene (4,2%), β-bisabolene (3,6%), β-caryophyllene (18,7%), δ-cadinene (4,2%) và calamenene (19,9%).
- Ngoài ra, cây còn chứa nhiều nguyên tố khoáng chất bao gồm: nhôm (3,88–4,39 mg/kg), calci (32455,49–33939,17 mg/kg), đồng (18,59–19,66 mg/kg), sắt (91,61–122,67 mg/kg), magnesi (18429,39–18644,43 mg/kg), mangan (21,57–22,40 mg/kg), phospho (2834,09–2913,53 mg/kg), lưu huỳnh (807,67–830,73 mg/kg) và kẽm (52,81–57,79 mg/kg).
Nhiều nghiên cứu trên in vitro và in vivo đã chứng minh các tác dụng dược lý tiềm năng của cây dây lức:
- Hạ acid uric: dịch chiết methanol được sử dụng trên mô hình chuột tăng acid uric máu gây bởi potassium oxonate và hypoxanthine. Kết quả cho thấy sử dụng đường uống dịch chiết methanol làm giảm nồng độ acid uric huyết thanh ở chuột tăng acid uric máu theo cách phụ thuộc liều. Quá trình phân lập định hướng theo hoạt tính sinh học từ phân đoạn có tác dụng mạnh nhất đã thu được hai phenylethanoid glycosid (arenarioside, verbascoside) và ba flavonoid (6-hydroxyluteolin, 6-hydroxyluteolin-7-O-glycoside, nodifloretin). Hiệu quả làm giảm acid uric huyết thanh của các hợp chất phân lập dao động từ 22,08% đến 66,94%. Trong đó, các flavonoid được xác định là nhóm hoạt chất chủ yếu chịu trách nhiệm cho tác dụng hạ acid uric của cây thông qua cơ chế ức chế hoạt tính xanthine oxidase/xanthine dehydrogenase (XOD/XDH) và tăng thải acid uric qua nước tiểu.
- Chống sỏi tiết niệu: Dịch chiết làm giảm đáng kể sự hình thành sỏi calcium oxonate, đồng thời làm hòa tan các viên sỏi calcium oxalate đã hình thành trước đó trong thận chuột được gây sỏi bằng gentamycin kết hợp chế độ ăn sinh sỏi. Cơ chế tác dụng được cho là liên quan đến khả năng làm tăng pH nước tiểu, tăng bài tiết calci và oxalate qua nước tiểu, giảm tình trạng quá bão hòa nước tiểu với các ion tạo sỏi.
- Bảo vệ gan: Hoạt tính bảo vệ gan của dịch chiết ethanol từ lá cây (liều 100 và 200 mg/kg thể trọng/ngày, đường uống, trong 15 ngày) đã được đánh giá trên mô hình tổn thương gan gây bởi CCl₄ ở chuột. Cả hai liều đều phục hồi nồng độ tăng cao của bilirubin toàn phần, aspartate transaminase (AST), alanine transaminase (ALT) và alkaline phosphatase (ALP) ở chuột nhiễm độc CCl₄ về mức bình thường. Một nghiên cứu khác có đề cập tác dụng bảo vệ gan và chống oxy hóa của dịch chiết methanol (liều 200 và 400 mg/kg, đường uống, trong 7 ngày) trên mô hình tổn thương gan cấp thực nghiệm gây bởi paracetamol. Dịch chiết methanol cho thấy tác dụng bảo vệ gan nhờ giảm hoạt tính SGOT, SGPT, ALP, giảm nồng độ bilirubin và mức độ peroxy hóa lipid, tăng nồng độ protein toàn phần, glutathione, catalase và superoxide dismutase phụ thuộc liều. Tác dụng bảo vệ gan của dịch chiết methanol cũng đã được nghiên cứu trên dòng tế bào HepG2. Kết quả cho thấy dịch chiết làm giảm sự sản sinh các loại oxy phản ứng (ROS) trong mô hình độc tính cảm ứng bởi lipopolysaccharide (LPS) trên tế bào HepG2, đồng thời làm giảm biểu hiện của các gen liên quan đến quá trình apoptosis
- Kháng khuẩn, kháng nấm: Dịch chiết methanol từ cây cho thấy hoạt tính kháng khuẩn trên Escherichia coli, Proteus vulgaris, Klebsiella pneumoniae, Bacillus cereus, Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa và Bacillus clausii, đồng thời có tác dụng kháng nấm trên Aspergillus niger và Candida albicans. Hoạt tính tăng theo nồng độ dịch chiết. Ở nồng độ 250 μg/đĩa, vòng vô khuẩn đạt 13 mm đối với Klebsiella pneumoniae, Bacillus cereus và Bacillus subtilis; 12 mm đối với Escherichia coli và Proteus vulgaris; 11 mm đối với Pseudomonas aeruginosa; 10 mm đối với Staphylococcus aureus.
- Chống viêm: trên mô hình phù chân chuột gây bởi carrageenan, dịch chiết methanol từ cây cho kết quả có tác dụng chống viêm tương đương với phenylbutazone. Một nghiên cứu khác chỉ ra cyclo-pentano phenanthrenol phân lập từ cây có tác dụng ức chế biểu hiện các cytokine tiền viêm gồm TNF-α, IL-1β và IL-6, làm giảm giải phóng nitric oxide (NO) thông qua ức chế inducible nitric oxide synthase (iNOS), đồng thời ức chế quá trình sinh tổng hợp prostaglandin thông qua ức chế phospholipase A₂ (PLA₂) và cyclooxygenase-2 (COX-2). Ngoài ra, hợp chất này còn tác động lên các đích nội bào như MAPK và NF-κB; ức chế quá trình phosphoryl hóa MAPK và ngăn cản sự chuyển vị của NF-κB vào nhân tế bào.
- Hạ huyết áp: Dịch chiết methanol (liều 500 mg/kg thể trọng/ngày, sử dụng trong 14 ngày) gây giảm huyết áp tâm thu trên mô hình chuột cống trắng Wistar tăng huyết áp gây bởi DOCA
- Chống oxy hóa: giá trị IC₅₀ trong các phép thử lần lượt là 799,74 μg/ml đối với hoạt tính bắt giữ gốc DPPH, 53,15 μg/ml đối với khả năng loại bỏ H₂O₂, 61,51 μg/ml đối với khả năng loại bỏ NO, và 45,60 μg/ml trong phép thử khử nitro blue tetrazolium (NBT). Thông qua các phép thử: hoạt tính chống oxy hóa toàn phần, khả năng khử, khả năng loại bỏ gốc tự do, anion superoxide, gốc hydroxyl, hydrogen peroxide, nitric oxide, cùng với xác định hàm lượng phenolic tổng số, dịch chiết methanol thể hiện hoạt tính chống oxy hóa toàn phần mạnh và phụ thuộc nồng độ ở các mức 50, 100, 200 và 400 μg/ml với tỷ lệ lần lượt là 58,96%; 63,07%; 68,29% và 74,59% tương đương với thuốc chuẩn α-tocopherol ở nồng độ 400 μg/ml.
- Chống đái tháo đường: trên mô hình chuột gây đái tháo đường bằng streptozotocin trong 15 ngày, dịch chiết làm tăng đáng kể hàm lượng glycogen ở gan và cơ, tăng nồng độ insulin huyết thanh. Bên cạnh đó, dịch chiết còn làm giảm đáng kể glucose huyết lúc đói, nồng độ hemoglobin glycosyl hóa và các enzym chỉ điểm trong huyết thanh. Hoạt tính chống đái tháo đường của γ-sitosterol phân lập từ cây (liều 20 mg/kg thể trọng, dùng đường uống một lần mỗi ngày trong 21 ngày) cũng đã được khảo sát trên chuột gây đái tháo đường bằng streptozotocin (STZ). Khả năng tiết insulin đáp ứng với glucose được đánh giá trên các đảo tụy chuột phân lập. γ-sitosterol làm giảm đáng kể glucose máu và hemoglobin glycosyl hóa, đồng thời làm tăng rõ rệt nồng độ insulin huyết tương, khối lượng cơ thể và lượng thức ăn tiêu thụ. Hợp chất này cũng làm tăng tiết insulin khi đáp ứng với glucose.
- Chống tiêu chảy: dịch chiết nước từ lá ở liều 100 mg/kg cho thấy tác dụng chống lại tiêu chảy do dầu thầu dầu gây ra, đồng thời làm giảm hiện tượng tích tụ dịch trong ruột trên chuột
- Chống ung thư: Hoạt tính chống ung thư của dịch chiết methanol và ethyl acetat từ lá và thân cây đã được nghiên cứu trên dòng tế bào ung thư vú MCF-7 bằng thử nghiệm tăng sinh tế bào được thực hiện bằng phương pháp MTT. Sự phân mảnh DNA do quá trình apoptosis được đánh giá thông qua phương pháp tách chiết DNA. Tất cả các dịch chiết đều ức chế sự phát triển của tế bào MCF-7 với giá trị IC₅₀ dao động từ 90–120 µg/mL. Kết quả cho thấy Phyla nodiflora có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư vú thông qua cơ chế cảm ứng apoptosis. Một nghiên cứu trên dòng tế bào ung thư phổi người NCI-H460 chỉ ra dịch chiết lá có tác dụng ức chế tăng sinh mạnh đối với dòng tế bào này với giá trị IC₅₀ là 10 µg/mL. Trên mô hình ung thư cổ trướng Ehrlich ở chuột nhắt trắng Swiss, dịch chiết methanol có tác dụng chống khối u rõ rệt thể hiện qua sự giảm đáng kể thể tích khối u và kéo dài thời gian sống của chuột mang khối u.
- Trên thần kinh: dịch chiết ethanol ở hai liều 250 và 500 mg/kg (đường uống) và dịch chiết chloroform ở liều cao 500 mg/kg có tác dụng ức chế thần kinh trung ương đáng kể (an thần), chống co giật và giải lo âu trên chuột nhắt.
- Hạ lipid máu: giảm đáng kể nồng độ cholesterol toàn phần, triglycerid và cholesterol lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL-C) trong huyết thanh, tăng nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C) ở chuột đái tháo đường gây bởi streptozotocin (STZ).
- Ức chế hình thành melanin: Dịch chiết methanol từ phần trên mặt đất cho kết quả không gây độc tế bào và làm giảm đáng kể hàm lượng melanin nội bào cũng như hoạt tính tyrosinase theo cách phụ thuộc liều. Dịch chiết còn thể hiện tác dụng chống tạo melanin rõ rệt thông qua việc làm giảm mức biểu hiện của phospho-CREB và MITF, từ đó ức chế tổng hợp tyrosinase và các protein liên quan đến tyrosinase (TRP-1 và TRP-2), làm giảm lượng melanin nội bào. Ngoài ra, dịch chiết còn làm tăng đáng kể sự phosphoryl hóa của các protein kinase hoạt hóa bởi mitogen (MAPKs) bao gồm ERK, JNK và phospho-p38, qua đó ức chế tổng hợp MITF và làm giảm quá trình sinh melanin
- Trên tóc: Phân đoạn ethyl acetat của dịch chiết ethanol đã được khảo sát về tác dụng kích thích mọc tóc. Các chế phẩm gel được bôi ngoài da trên vùng lông đã cạo của chuột đen trong vòng 30 ngày cho kết quả sử dụng tại chỗ các gel này làm tăng đáng kể tốc độ mọc lông so với nhóm chứng âm. Dịch chiết ethanol ở nồng độ 250 và 500 µg/mL/đĩa trong phương pháp khuếch tán đĩa thạch cho kết quả Malassezia furfur nhạy cảm với tất cả các nồng độ dịch chiết ethanol của cây
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Trị viêm amidan cấp: Dùng 30–60 g chè rừng, sắc nước đặc, ngậm rồi nuốt dần.
Hỗ trợ điều trị viêm lợi có mủ: Kết hợp dây lức, rau má, cỏ xước, chua me đất hoa vàng, mỗi loại 30 g tươi. Sắc lấy nước, ngậm và nuốt từ từ.














.png)