Muồng trâu (Senna alata (L.) Roxb., đồng danh Cassia alata L.) là loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae), phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Việt Nam, cây thường mọc hoang ở ven đường, nương rẫy và được trồng làm cảnh nhờ cụm hoa vàng nổi bật. Trong y học cổ truyền, muồng trâu được sử dụng phổ biến để điều trị các bệnh ngoài da như hắc lào, lang ben, mẩn ngứa, đồng thời có tác dụng nhuận tràng, giải độc và chống viêm. Muồng trâu được xem là nguồn dược liệu có tiềm năng trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh da liễu.
%20Roxb_%20-%20Mu%E1%BB%93ng%20tr%C3%A2u.jpg)
Tổng quan
Tên gọi khác: Muồng lác, Tâng hét, Cây lác, Muồng xức lác,…
Tên khoa học: Senna alata (L.) Roxb. (hoặc Cassia alata L.)
Họ thực vật: họ Đậu - Fabaceae
Phân bố và sinh thái: Muồng trâu phân bố chủ yếu ở khu vực Trung Mỹ, vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi, một số đảo trên Thái Bình Dương, cùng phía Bắc và Đông châu Úc. Ở nước ta, cây được trồng để làm cảnh và mọc hoang nhiều nơi, tập trung nhiều nhất ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An,…
Đặc điểm thực vật
Cây nhỡ cao 1–2 m, có nhánh nằm ngang, phủ lông mịn.
Lá kèm hình tam giác, dài 6–8 mm, tồn tại. Lá có trục dài 30–50 cm, hơi có rìa, mang 8–20 đôi lá chét hình thuôn–bầu dục, kích thước 5–15 × 3–7 cm, tròn ở hai đầu, không lông.
Cụm hoa thành chùm ở nách lá, nhiều hoa, kích thước 20–50 × 3–4 cm. Lá bắc dễ rụng. Hoa có cuống ngắn; lá đài không đều nhau, hình thuôn, kích thước 10–20 × 6–7 mm; cánh hoa màu vàng bóng, hình xoan tròn đến hình bay, có móng ngắn, kích thước 2 × 1–1,5 cm; nhị 10, có 3 cỡ, trong đó 2 nhị lớn hơn có chỉ nhị cong.
Muồng trâu thường gặp ở những nơi đất trống, nương rẫy cũ, gần sông suối, ở độ cao tới 1500 m. Ra hoa, kết quả vào mùa đông–xuân.
Bộ phận dùng: Quả, lá, cành và thân
Công dụng
Y học cổ truyền
Tính vị: Các bộ phận của cây đều có mùi hắc, vị hơi đắng và tính mát. Riêng lá có vị cay, tính ấm.
Qui kinh: Chưa có nghiên cứu.
Công năng: Sát trùng, lợi tiểu, nhuận tràng, giải nhiệt và chỉ dương (giảm ngứa). Khi sao vàng, dược liệu có tác dụng tiêu viêm, tiêu độc, nhuận gan và tiêu thực.
Chủ trị: Các chứng bệnh như Thấp chẩn (chàm), viêm da thần kinh, hắc lào, da vàng, viêm gan, táo bón, đờm nhiều, phù thũng, dị ứng và nấm da.
Y học hiện đại
Senna alata chứa nhiều nhóm hợp chất hóa học khác nhau, trong đó thành phần chủ yếu là flavonoid và anthraquinon. Tinh dầu từ lá chứa các monoterpen và tinh dầu như linalool (23,0%), pentadecanal (9,3%), borneol (8,6%) và α-terpineol (5,9%). Các flavonoid được phân lập gồm kaempferol, kaempferol-3-O-gentiobioside và kaempferol-3-O-sophoroside; đáng chú ý kaempferol-3-O-gentiobioside hiện diện trong lá tươi nhưng có thể bị phân hủy khi phơi khô. Nhóm anthraquinon khá phong phú với aloe-emodin, chrysophanol, emodin, physcion, rhein, torachrysone và nhiều dẫn chất anthraquinon khác; ngoài ra còn ghi nhận một dẫn chất 10-hydroxyanthraquinon là alarone nhưng hợp chất này kém bền và dễ bị oxy hóa. Các hợp chất khác được xác định gồm cassiaxanthone (xanthon), 2,6-dimethoxybenzoquinone, dalbergin, 2,3,7-tri-O-methylellagic acid, p-hydroxybenzoic acid, adenine cùng các steroid thực vật như β-sitosterol. Một số nghiên cứu sắc ký còn cho thấy sự hiện diện của sennosid trong lá dù chưa phân lập và xác định cấu trúc hoàn chỉnh.
Tác dụng dược lý của muồng trâu được thể hiện thông qua các tài liệu, báo cáo khoa học:
- Kháng khuẩn: Cao ethanol 95% từ lá có tác dụng trên Propionibacterium acnes với MIC khoảng 625 µg/ml. Một số phân đoạn methanol 90% có tác dụng trên vi khuẩn Gram dương như Bacillus subtilis, Micrococcus luteus, Staphylococcus aureus.
- Kháng nấm: Cao nước lá có tác dụng trên Candida albicans (MIC khoảng 390 µg/ml) và Cryptococcus neoformans (MIC khoảng 500 µg/ml) trong thử nghiệm in vitro. Aloe-emodin được xác định là anthraquinon có hoạt tính mạnh nhất trên các nấm da như Trichophyton rubrum, T. mentagrophytes và Epidermophyton floccosum.
- Điều trị bệnh ngoài da: Dịch ép lá được sử dụng trên người trong điều trị lang ben do Malassezia furfur. Ngoài ra, thuốc mỡ chứa cao ethanol lá thúc đẩy biểu mô hóa vết thương nhiễm Staphylococcus aureus và Pseudomonas aeruginosa trên mô hình thỏ.
- Kháng ký sinh trùng: Cao CH2Cl2/CH3OH từ lá có hoạt tính yếu trên Entamoeba histolytica (in vitro, IC50 khoảng 434 µg/ml). Cao rễ ethanol 90% có tác dụng trên Trypanosoma brucei rhodesiense với IC50 khoảng 23 µg/ml. Các cao chiết từ lá và rễ được thử trên Plasmodium falciparum nhưng hoạt tính yếu, IC50 >5–50 µg/ml.
- Nhuận tràng: Anthraquinon trong lá có tác dụng kích thích nhu động ruột. Trên mô hình chuột, dịch chiết lá gây tăng phân ướt phụ thuộc liều. Thử nghiệm lâm sàng đối chứng trên 80 bệnh nhân cho thấy hiệu quả đi tiêu trong vòng 24 giờ đạt khoảng 83%.
- Hạ đường huyết: Cao ethanol 85% từ lá không làm giảm glucose ở chuột bình thường nhưng làm giảm glucose máu trên chuột tăng đường huyết gây bởi streptozotocin theo cơ chế phụ thuộc liều (100–400 mg/kg p.o.). Đồng thời có tác dụng phục hồi tổn thương tụy và thận.
- Chống viêm: Cao ethanol lá và kaempferol-3-O-sophoroside làm giảm phù chân chuột gây bởi carrageenan. Ở liều 400 mg/kg, mức ức chế phù đạt khoảng 60,9% trên mô hình chuột.
- Giảm đau: Cao ethanol lá và cao hexan lá làm giảm quặn đau gây bởi acid acetic trên chuột nhắt. Tác dụng giảm đau đạt khoảng 56–60% tùy liều và dạng cao chiết.
- Tăng tiết mật: Cao nước lá có tác dụng lợi mật trên chuột Wistar ở liều 15 mg/kg; tác dụng kéo dài hơn so với cyclobutyrol.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Chữa đau thần kinh tọa: Rễ nhàu, thần thông, kiến cò mỗi thứ 12g, đỗ trọng 8g, cây lức 20g và muồng trâu 24g. Sắc uống, ngày dùng 1 thang.
- Chữa táo bón: 20g lá muồng trâu. Đun với 1 lít nước và uống 1 ly trước khi ngủ.
- Chữa thấp khớp: Rễ cỏ xước, dứa dại, tang ký sinh và quế chi mỗi thứ 20g, vòi voi 30g và muồng trâu 40g. Sắc uống ngày 1 thang trong 7 – 10 ngày.
- Trị lác, hắc lào: Dùng lá muồng trâu giã nát, sau đó thêm ít muối hoặc nước cốt chanh và thoa lên da.
- Trị đại tiện khó khăn do nhiệt: Đại hoàng 4 – 6g, chút chít và muồng trâu mỗi thứ 20g. Sắc uống trong ngày.
- Chữa lang ben: 1 nắm lá muồng trâu và 1 ít muối. Đun sôi lá cùng với muối, sau đó dùng nước tắm 1 lần/ ngày. Hoặc có thể giã nát lá và đắp lên vùng da bị bệnh 2 – 3 lần/ ngày cho đến khi khỏi.
- Chữa mẩn ngứa ngoài da: Quả khô không hạt và cuống lá 5 – 20g. Ngâm trong 1 lít nước sôi, dùng 1 ly nhỏ uống vào buổi tối.
- Chữa táo bón nặng: Ngọn cam thảo dây non 40g và rễ muồng trâu 20g. Rửa sạch các nguyên liệu, sau đó đâm nhuyễn, hòa thêm nước sôi vào để nguội. Dùng nước chia thành 2 lần dùng và uống hết trong ngày.














.png)