Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.) là loài cây thuốc bản địa của Việt Nam thuộc họ Bông (Malvaceae). Từ lâu, sâm bố chính đã được dùng để bồi bổ cơ thể, hỗ trợ phục hồi sức khỏe và cải thiện thể trạng suy nhược. Bên cạnh giá trị y học cổ truyền, nhiều nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy cây chứa đa dạng hợp chất sinh học có tiềm năng chống oxy hóa, bảo vệ cơ thể và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe. 

Tổng quan

Tên gọi khác: Sâm phú yên, bụp nhân sâm, thổ hào sâm

Tên khoa học: Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr. 

Tên đồng danh pháp: Abelmoschus rhodopetalus F.Muell.; Abelmoschus moschatus ssp. tuberosus (Span.) Borss.; Hibiscus sagittifolius Kurz  

Họ thực vật: Malvaceae - họ Bông

Phân bố và sinh thái: Sâm bố chính là cây bản địa của Việt Nam. Cách đây khoảng 300 năm, thảo dược này đã được tìm thấy ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) theo dạng mọc hoang.Cây đã được phát hiện ở nhiều tỉnh như: Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Khánh Hòa, Kon Tum

Đặc điểm thực vật

Cây thảo, có khi dựa vào các cây xung quanh, cao khoảng 1m. Rễ mẫm màu trắng nhạt hay vàng nhạt, có đường kính 1,5-2cm, nhiều rễ có hình người trông rất giống nhân sâm

Lá ở phía gốc cây hình trái xoan, phần cuối phiến lá hình tim hay hình mũi tên, đầu phiến lá không nhọn. Các lá ở phía ngọn càng lên trên càng hẹp, có khi phiến lá chia thuỳ với thùy giữa dài hơn, có khi phiến lá chia thùy trong như mũi tên. Lá dài 6-7cm, rộng 30mm. Mặt lá có lòng đơn hay hình sao, là kéo hình sợi chỉ dài 7mm có ít lông dài. 

Hoa màu hồng hay đỏ, phớt vàng, mọc đơn độc ở kẽ lá. đường kính tới 8cm. Cuống hoa dài 5-8cm, có lông cứng, hơi phỏng đầu. Tiểu đài cấu tạo bởi 7-10 bộ phận, dài 12-14mm, có lông tua tủa, đài hoa hình túi, ở ngọn có vài rằng nhỏ, đài rách ra và rụng sớm, 5 cảnh hoa dài 5-6cm, rộng 3-4cm ở ngọn. Nhiều nhị hàn liền với nhau thành một cột. Bao phấn phủ cột đỏ đến tận gốc. Bầu có lông, 5 vòi, có tuyến.

Quả hình trứng nhọn, dài gấp 3 lần tiểu đài, ngoài mặt có lông, khi chín, quả nứt thành 5 mảnh vỏ, mặt trong và mặt ngoài đều có lông. 

Hạt hình thận, màu nâu, ngoài mặt có những đường vân rất sít nhau thành những gọn hay ụ màu vàng.

Bộ phận dùng: rễ củ

Công dụng

Y học cổ truyền

Vị ngọt, nhạt, tính bình, Vào hai kinh tỳ, phê. Tác dụng : Bổ khí, ích huyết, sinh tân dịch, chỉ khát, chỉ ho, trừ đờm. Chủ trị: Cơ thể suy nhược, hư lao. kém ăn, kém ngủ, thần kinh suy nhược, hoa mắt, chóng mặt, đau dạ dày, tiêu chảy, ho, viêm họng, viêm phế quản.

Y học hiện đại

Thành phần hóa học: Rễ sâm Bố Chính chứa nhiều hợp chất phenolic, flavonoid, terpenoid và sesquiterpenoid. Đã phân lập được sesquiterpenoid abelsaginol (AS) từ rễ cây Abelmoschus sagittifolius. Ngoài ra còn có các hợp chất như N-trans-feruloyl tyramine, Hibiscone B, Marmesinin, Cytochalasin B, Cleomiscosin A, N-(p-trans-coumaroyl) tyramine cùng nhiều dẫn chất calamenene và coumaroyl tyramine. Cao chiết rễ giàu polyphenol và terpenoid, đặc biệt trong phân đoạn ethyl acetat và ethanol.

Hiện nay các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của rễ sâm bố chính còn tương đối hạn chế. Một số tài liệu khoa học có chỉ ra tác dụng của cây như sau:

  • Tác dụng chống oxy hóa: Hợp chất abelsaginol (AS) có khả năng chống oxy hóa mạnh trong môi trường nước sinh lý pH 7,4 thông qua cơ chế chuyển electron đơn. AS có hoạt tính bắt gốc tự do ABTS•+ đáng kể và trong một số mô hình cho hiệu quả cao hơn Trolox và BHT.
  • Tác dụng an thần, ức chế thần kinh trung ương: Cao ethanol và cao nước rễ sâm Bố Chính làm giảm hoạt động tự nhiên của chuột nhắt trắng, kéo dài thời gian ngủ do hexobarbital gây ra, đối kháng tác dụng kích thích của amphetamin và chống co giật do pentetrazol.
  • Tác dụng chống loét dạ dày: Cao nước sâm Bố Chính có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày trên các mô hình gây loét bằng ethanol, indomethacin và thắt môn vị. Cao chiết còn có khả năng ức chế Helicobacter pylori, giảm acid dịch vị và tăng tiết chất nhầy bảo vệ niêm mạc.
  • Tác dụng chống mệt mỏi: Cao chiết nước rễ sâm Bố Chính làm tăng đáng kể thời gian bơi của chuột trong mô hình thử nghiệm Brekhman cho thấy tác dụng tăng sức bền và chống mệt mỏi.
  • Tác dụng ức chế α-glucosidase và α-amylase: N-trans-feruloyl tyramine và Hibiscone B có hoạt tính ức chế α-glucosidase mạnh. Cao ethanol sâm Bố Chính cũng có khả năng ức chế enzyme α-amylase, cho thấy tiềm năng hỗ trợ điều hòa đường huyết và hỗ trợ điều trị đái tháo đường.
  • Tác dụng gây độc tế bào: Nhiều hợp chất phân lập từ rễ như Acylhibiscone B, Marmesinin, Cytochalasin B, Cleomiscosin A và N-(p-trans-coumaroyl) tyramine có tác dụng gây độc trên các dòng tế bào ung thư HeLa và HepG2. Marmesinin còn cho thấy tiềm năng ức chế CDK2 trong nghiên cứu mô phỏng tính toán.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

  • Điều trị bệnh lao phổi cho trẻ em: Sâm bố chính (6-10g), siro cam thảo (200g), nước đun sôi để nguội (180ml). Trộn đều tất cả các nguyên liệu đã chuẩn bị để được hỗn hợp hòa quyện. Mỗi lần cho trẻ uống 1 thìa x 1 lần/ngày.
  • Trị rối loạn kinh nguyệt: Sâm bố chính (10g), lá ngải cứu ( 10g), sung úy (10g). Sắc uống trong 7 ngày liên tục.
  • Bồi bổ khí huyết: Sâm bố chính (30g), củ mài, đương quy, dĩ nhân ( mỗi loại 15g), hồi dầu (12g), mật ong nguyên chất. Tán tất cả thành bột, trộn chung với lượng mật ong vừa đủ để được hỗn hợp mịn, khô vừa và không dính tay. Vo thuốc thành viên hoàn uống mỗi ngày 15 – 20g.
  • Chống suy dinh dưỡng, đi ngoài phân lỏng, kiết lỵ cho trẻ trên 2 tuổi: Hoài sơn (30g), sâm bố chính (25g), ý dĩ (20g), bạch chỉ (10g), hạt sen (15g). Có thể sử dụng nguyên liệu với số lượng lớn hơn nhưng cần tuân theo đúng tỷ lệ trên. Tất cả đem sao chín, nghiền thành bột mịn. Trộn bột thuốc chung với một ít nước và đường nấu lên để được một loại cao lỏng. Để trị bệnh uống mỗi ngày 4 – 10g.
  • Bổ huyết, chữa thiếu máu: Sâm bố chính, giao đằng, hạt sen (mỗi loại 100g), cam thảo (40g), bát giác hồi hương (8g), thảo quả (12g). Nghiền các vị trên lấy bột, vo thành viên hoàn nhỏ bảo quản trong hũ thủy tinh. Ngày uống 2 lần x 20g/lần.
  • Chữa lo âu, trầm cảm: Sâm bố chính (16g), củ khoai mài, hà thủ ô, ích trí, bá tử nhân (mỗi loại 12g), táo nhân, cam thảo dây, thủy ngọc, liên tu, xương bồ ( mỗi loại 8g), nhục quế (4g). Tất cả rửa sạch, cho vào ấm sắc với 500ml, sắc cạn còn 300ml thì ngưng. Chia uống 2 lần trong ngày có tác dụng an thần, giảm căng thẳng, lo âu, trầm cảm.
  • Hạ sốt, chữa ra nhiều mồ hôi và hay khát nước: Sâm bố chính (20g), địa hoàng thán (30g), quế nhục (3g). Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
  • Điều trị dự phòng hen suyễn, giảm tần suất lên cơn hen: Sâm bố chính (200g), vỏ quýt và can khương (mỗi loại 120g), rễ cây dâu tằm (160g), 4 con tắc kè, mật ong nguyên chất. Tắc kè làm sạch ruột, băm nhỏ, sao vàng. Tán tất cả thành bột trộn chung với mật ong làm hoàn. Mỗi ngày uống 12g.
  • Chữa ho: Sâm bố chính (10g), quốc lão (8g). Sắc thuốc với 500ml nước, đun cạn còn 200ml thì tắt bếp. Gạn nước chia 2 lần uống, mỗi ngày 1 thang.
  • Bồi bổ sức khỏe cho bệnh nhân sau điều trị áp xe phổi: Sâm bố chính và hoài sơn ( mỗi vị 16g), dĩ mễ, sinh địa, huệ tây, kim ngân hoa ( mỗi loại 12g). Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)