Nhọ nồi (Eclipta prostrata L.) là loài cây thân thảo mọc hằng năm thuộc họ Cúc (Asteraceae) phân bố phổ biến ở các vùng đất ẩm ướt, ruộng ẩm và bãi hoang khắp nước ta. Cây dễ nhận biết với thân màu xanh đậm hoặc đỏ tím phủ nhiều lông nhám, lá hình ngọn giáo mọc đối, cụm hoa đầu màu trắng ở mép mang ống tràng màu xanh nhạt ở giữa và tiết dịch đen nhạt khi vò nát. Từ lâu, toàn cây nhọ nồi đã được sử dụng trong y học cổ truyền để lương huyết, chỉ huyết, bổ can thận, trị ho ra máu, chảy máu cam, băng huyết và rong huyết. Hiện nay, loài cây này ngày càng thu hút sự quan tâm của y học hiện đại nhờ chứa hoạt chất phong phú cùng nhiều thử nghiệm chứng minh tiềm năng trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe.

Tổng quan

Tên gọi khác: Cỏ mực, Hạn liên thảo 

Tên khoa học: Eclipta prostrata L.

Họ thực vật: họ Cúc - Asteraceae 

Phân bố và sinh thái: Cây nhọ nồi mọc nhiều ở hầu hết các nước thuộc vùng Nam Á và Đông Nam Á, loài liên nhiệt đới, phát triển ở các vùng đất ẩm ướt, bao gồm cả các ruộng ẩm, bãi hoang ven đường và có thể mọc ở độ cao lên tới 500m.  

Đặc điểm thực vật

Cây thân thảo, mọc hằng năm, cao khoảng 30-40 cm. Thân có màu xanh đậm hoặc hơi đỏ tím và có nhiều lông nhám. Các đốt thân không đều 

Lá hình ngọn giáo, dài khoảng 3-6 cm, rộng từ 0,5-1 cm, mọc đối, có lông ở cả hai mặt, mép lá có răng cưa, cuống ngắn.

Cụm hoa đầu cao khoảng 6-7 cm và rộng từ 5-6 cm, mọc trên cuống mảnh dài khoảng 2-3,5 cm. Tổng bao có một hàng lá bắc hình bầu dục thuôn, có lông ở mặt lưng và ở mép. Đế hoa rộng khoảng 5 cm. Các hoa ở mép là hoa cái có tràng dạng lưỡi và màu trắng, trong khi các hoa ở giữa là hoa lưỡng tính có ống tràng màu xanh nhạt ở đầu và có 5 thuỳ ngắn.

Quả bế của cây có ba cạnh dài khoảng 3 mm, màu đen và không có mào lông. 

Khi bấm thân hoặc vò lá, cây có thể tiết ra một chất dịch màu đen nhạt khi tiếp xúc với không khí.

Bộ phận dùng: toàn cây.

Công dụng

Y học cổ truyền

Vị ngọt, chua, tính hàn, vào hai kinh can, thận. Tác dụng: Lương huyết, chỉ huyết, bổ can thận. Chủ trị: Can, thận âm hư, các chứng huyết nhiệt, chứng ho ra máu, nôn ra máu, đại tiện và tiểu tiện ra máu, chảy máu cam, chảy máu dưới da, băng huyết, rong huyết.

Y học hiện đại

Thành phần hóa học: Eclipta prostrata chứa nhiều nhóm hợp chất hóa học gồm triterpenoid, flavonoid, coumestan, steroid, alkaloid, thiophene, polyacetylene và các hợp chất tinh dầu khác

Triterpenoid và saponin triterpenoid: Đã phân lập được hơn 30 hợp chất thuộc các khung oleanan, ursan, taraxeran và lupan, gồm eclalbasaponin I–XIII, ecliptasaponin A–D, acid oleanolic, acid ursolic, acid echinocystic, α-amyrin và β-amyrin.

Flavonoid: chủ yếu thuộc nhóm flavon, flavonol và isoflavon, gồm quercetin, luteolin, apigenin, diosmetin, pratensein, orobol và các dẫn chất glycosid của chúng.

Coumestan: gồm wedelolacton, demethylwedelolacton, isodemethylwedelolacton và các dẫn chất glycosid. Wedelolacton được xem là thành phần đặc trưng của dược liệu.

Thiophene và polyacetylene: đã phân lập được nhiều hợp chất mono-, di- và trithiophene khác nhau.

Steroid và phytosterol: gồm stigmasterol, β-sitosterol, daucosterol, verazine và một số alkaloid steroid khác.

Nhiều báo cáo khoa học và thử nghiệm trên mô hình in vitro và in vivo đã chỉ ra tác dụng dược lý của cây nhọ nồi:

  • Bảo vệ gan: Dịch chiết nước và ethanol của nhọ nồi cho thấy tác dụng bảo vệ gan trên mô hình gây độc gan bằng CCl₄ ở chuột cống. Cao chiết giúp làm giảm các enzym AST, ALT, ALP và hạn chế stress oxy hóa. Wedelolactone, echinocystic acid và eclalbasaponin II còn ức chế tăng sinh tế bào hình sao ở gan, giảm viêm và xơ hóa gan thông qua điều hòa NF-κB và giảm hoạt hóa tế bào T.
  • Chống viêm, giảm đau: Cao chiết nước, ethanol và methanol của nhọ nồi thể hiện hoạt tính chống viêm trên mô hình viêm đại tràng do DSS, hen phế quản và đại thực bào RAW264.7 kích thích bởi LPS. Cơ chế liên quan đến ức chế con đường NF-κB, giảm biểu hiện COX-2, iNOS, TNF-α, IL-6 và NO.
  • Chống loãng xương: Trên mô hình chuột cắt buồng trứng, cao chiết nhọ nồi làm tăng mật độ xương và giảm hủy xương. Wedelolactone kích thích tạo cốt bào qua đường truyền tín hiệu Wnt/GSK3β/β-catenin, BMP2 và Smad1/5/8, đồng thời ức chế hủy cốt bào thông qua NF-κB/c-fos/NFATc1. Echinocystic acid và các triterpenoid khác cũng cho thấy tác dụng chống loãng xương rõ rệt.
  • Hạ đường huyết: Cao methanol và ethanol của nhọ nồi làm giảm glucose huyết trên mô hình chuột gây đái tháo đường bằng alloxan hoặc streptozotocin. Cơ chế được ghi nhận gồm ức chế α-glucosidase, aldose reductase, tăng hoạt tính hexokinase và phục hồi chức năng tế bào β tụy. Eclalbasaponin II và wedelolactone là những hoạt chất nổi bật.
  • Hạ lipid máu: Các phân đoạn butanol, ethyl acetat và ethanol của nhọ nồi làm giảm cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL-C và tăng HDL-C trên mô hình tăng lipid máu do khẩu phần giàu chất béo. Cơ chế liên quan đến ức chế biệt hóa tế bào mỡ, thúc đẩy ly giải lipid và điều hòa con đường AKT/mTOR.
  • Chống ung thư, gây độc tế bào: Cao chiết nhọ nồi cho hoạt tính ức chế nhiều dòng tế bào ung thư như HepG2, HeLa, SKOV3, MDA-MB-231 và A549. Eclalbasaponin II gây apoptosis và autophagy qua điều hòa JNK, p38 và mTOR; α-terthienylmethanol gây apoptosis thông qua tăng sinh ROS.
  • Kháng khuẩn, kháng nấm: Cao chiết nhọ nồi có tác dụng ức chế nhiều vi khuẩn như Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Shigella boydii và một số nấm như Aspergillus niger, Microsporum canis. 
  • Bảo vệ thần kinh: Trên mô hình suy giảm trí nhớ do scopolamin, cao chiết nhọ nồi cải thiện trí nhớ và tăng cường dẫn truyền cholinergic. Eclalbasaponin II và wedelolactone giúp tăng hình thành LTP ở hồi hải mã, ức chế acetylcholinesterase và hoạt hóa tín hiệu Akt/GSK-3β. Luteolin còn cho tác dụng chống co giật trên mô hình PTZ.
  • Kích thích mọc tóc: Cao petroleum ether và methanol của nhọ nồi thúc đẩy nang tóc chuyển sang pha anagen trên mô hình chuột cạo lông hoặc chuột nude. Tác dụng thể hiện qua tăng mật độ nang tóc, rút ngắn thời gian mọc tóc và tăng chiều dài tóc
  • Bảo vệ thận: Cao methanol lá nhọ nồi giúp cải thiện tổn thương thận do gentamicin hoặc doxorubicin gây ra ở chuột thực nghiệm. Wedelolactone còn ức chế tăng sinh bất thường tế bào gian mạch thận thông qua điều hòa NF-κB.
  • Tác dụng khác: nhọ nồi còn được ghi nhận có hoạt tính chống HCV, chống nọc rắn, chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, chống kết tập tiểu cầu, hỗ trợ điều trị bạch biến và bảo vệ phổi trên nhiều mô hình thực nghiệm khác nhau.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

  • Chữa rụng tóc sớm, chóng mặt hoa mắt và bổ thận: Rửa sạch cỏ mực, cắt nhỏ và nấu cô đặc. Sau đó, trộn cao cỏ mực với nước Gừng và mật ong, lắc đều. Khi sử dụng, lấy 1-2 thìa canh hòa vào nước đun sôi còn ấm hoặc cho ít rượu gạo để uống. Sử dụng hai lần mỗi ngày để bổ thận, ích tinh huyết và giữ cho tóc đen.
  • Chữa vết thương nhỏ chảy máu: lấy một nắm cỏ mực sạch nhai hoặc giã nhuyễn, sau đó đắp lên vết thương.
  • Chữa bệnh trĩ: Lấy một nắm cỏ mực (bao gồm cả rễ, thân và lá), giã nát và vắt lấy nước cốt. Tiếp theo, cho nước cỏ mực vào ly rượu nhỏ, đun nóng và uống. Phần bã của cỏ mực có thể đắp bên ngoài hậu môn mỗi khi búi trĩ bị sa ra ngoài.
  • Chữa chảy máu dạ dày và hành tá tràng: Lấy 50g cỏ mực, 25g bạch cập, 4 quả đại táo và 15g Cam Thảo để sắc uống. Sắc uống 1 thang chia hai lần mỗi ngày.
  • Trị chảy máu cam: Sử dụng 30g cỏ mực kết hợp với 15g lá Sen để sắc lấy nước uống. Mỗi ngày sắc 1 thang chia làm 2 lần và uống liên tục trong 20 ngày.
  • Chữa di mộng tinh (do tâm thận nóng): Sử dụng cỏ mực sấy khô, tán bột. Uống 8g mỗi ngày với nước cơm hoặc sắc 30g cỏ mực để uống.
  • Chữa rong kinh: Trường hợp nhẹ: Sử dụng cỏ mực tươi giã vắt lấy nước cốt để uống hoặc sắc nước từ cỏ mực khô. Trường hợp nặng: Cần phối hợp thêm trắc bá diệp hoặc cây huyết dụ...
  • Dùng cho trẻ em trên 1 tuổi (Chữa tưa lưỡi, nanh sữa): Sử dụng 4g cỏ mực tươi và 2g lá hẹ tươi giã nhuyễn, lấy nước cốt hòa mật ong và chấm lên lưỡi cách 2 giờ 1 lần.
  • Chữa sỏi thận: Lấy 25g cỏ mực đem nấu chung với 15g xa tiền thảo uống như nước trà nhiều lần trong ngày cho hết. Nếu khó uống, có thể cho thêm chút đường để tạo vị ngọt.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)