Tơ mành (Hiptage benghalensis (L.) Kurz) còn gọi là dây chỉ hay màng nhện, là loài cây bụi thuộc họ Măng rô (Malpighiaceae), phân bố tự nhiên tại một số vùng rừng núi Việt Nam. Điểm đặc trưng của loài thực vật này là khi bẻ đôi thân hoặc lá sẽ xuất hiện các sợi mảnh như tơ chỉ. Trong y học cổ truyền, vỏ thân và lá tơ mành được dùng chữa bệnh ngoài da, phù thận, làm thuốc bó gãy xương. Hiện nay, loài cây này ngày càng được quan tâm hơn trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

Tổng quan
Tên gọi khác: dây chỉ, màng nhện, dùi đục cánh mào, dùi đục bengal, trường nát, phong xa đằng
Tên khoa học: Hiptage benghalensis (L.) Kurz
Họ thực vật: họ Măng rô - Malpighiaceae
Phân bố và sinh thái: Tại Việt Nam, cây có ở một số tỉnh như Kon Tum, Quảng Trị,...
Đặc điểm thực vật
Dạng cây nhỏ, mọc thành bụi.
Lá mọc đối, phiến dài đến 13-14cm, chóp có đuôi, có lông trên cả hai mặt, gân phụ 5-6 cặp, cuống 9mm.
Cụm hoa hình chùm mọc ở nách lá phần già của nhánh, cao 4-5cm; cuống dài 1-2cm, có lông trắng.
Quả có 3 cánh mỏng, vàng nhạt, cánh giữa thường dài hơn.
Thân và lá khi bẻ ra có những sợi mảnh như chỉ.
Mùa hoa quả: tháng 5-7
Bộ phận dùng: vỏ thân, lá
Công dụng
Y học cổ truyền
Vị đắng nhẹ, chát, tính ôn. Tác dụng: Sát trùng, ôn thận, cầm máu, ích khí. Chữa bệnh ngoài da, phù thận, làm thuốc bó gãy xương
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Cây Tơ mành (Hiptage benghalensis) chứa nhiều nhóm hợp chất phong phú bao gồm:
- Triterpenoid: Khung lupane và oleanane (Lupeol, 3β-acetoxy-20-hydroxylupane, betulonic acid, oleanan-3-one, friedelin, epifriedelinol), Khung alnusane và bauerane (alnus-5(10)-en-3β-yl acetate, alnus-5(10)-en-3β-ol, 3β-acetoxy-9β-bauer-7-en-6-one)
- Steroid: (24R)-24-propylcholesterol, β-sitosterol.
- Flavonoid: Hàm lượng flavonoid tổng số cao nhất ở lá (0,008 mg/g trọng lượng khô), hoa (0,007 mg/g) và thấp nhất ở thân (0,002 mg/g).
- Vỏ rễ chứa hiptagin và mangiferin (1,3,6,7-tetrahydroxy-2-β-D-glucosylxanthone).
- Các nhóm chất khác: Alkaloid, coumarin, phenol, tannin, saponin, carbohydrate, octacosanol
Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra tác dụng dược lý của cây qua các thử nghiệm in vitro và in vivo:
- Chống viêm và giảm đau: Thử nghiệm in vitro trên mô hình tế bào đại thực bào RAW 264.7 bị kích thích bởi LPS cho thấy sáu hợp chất triterpene và steroid phân lập từ phân đoạn chloroform của vỏ thân (gồm các chất alnus-5(10)-en-3β-yl acetate, oleanan-3-one, (24R)-24-propylcholesterol, alnus-5(10)-en-3β-ol, 3β-acetoxy-20-hydroxylupane và betulonic acid) thể hiện khả năng ức chế rõ rệt sự sản sinh NO, PGE₂, đồng thời làm giảm biểu hiện protein của iNOS và COX-2. Trong đó, các hợp chất 1, 2, 7 và 8 còn ngăn chặn sự hoạt hóa của con đường NF-κB thông qua việc tăng biểu hiện protein IκBα, giảm biểu hiện của p-p65 và ức chế hoạt tính phiên mã của NF-κB. Thử nghiệm in vivo trên mô hình gây phù nề bàn chân bằng carrageenan ở chuột cống Long Evans cho thấy dịch chiết ethanol từ lá ở các mức liều 250 mg/kg và 500 mg/kg thể trọng mang lại tác dụng chống viêm rõ rệt, đồng thời kích thích phản ứng giảm đau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) trong phép thử đĩa nóng và phép thử quặn đau do acetic acid ở chuột nhắt Swiss albino. Khi sàng lọc sâu hơn với các phân đoạn chiết xuất từ cây bao gồm toluene, ethyl acetate, butan-2-one và n-butyl alcohol trên các mô hình gây đau quặn, gây đau bằng formalin ở chuột nhắt và mô hình phù chân do carrageenan, mô hình u hạt gây bởi hạt bông ở chuột cống, kết quả ghi nhận tác dụng giảm đau chống viêm diễn ra phụ thuộc vào liều lượng thông qua cơ chế ức chế trên cả COX-2 và 5-LOX. Phân đoạn ethyl acetate đạt hiệu lực mạnh nhất ở liều 150 mg/kg đường uống, giúp ức chế 70,39% phản ứng quặn đau, giảm lần lượt 83,64% và 82,71% phản ứng đau do formalin, đồng thời ức chế 68,50% hiện tượng phù chân và giảm 41,36% (giai đoạn đầu), 36,95% (giai đoạn sau) sự hình thành u hạt. Thử nghiệm với dịch chiết thô methanol từ lá (MEHB) ở liều 200 mg/kg và 400 mg/kg cũng ghi nhận tác dụng giảm đau đáng kể trong thử nghiệm đĩa nóng, thử nghiệm quặn đau và cho phản ứng kháng viêm tối đa tại thời điểm 3 giờ (liều 200 mg/kg) và 2 giờ (liều 400 mg/kg).
- Hạ đường huyết: Nghiên cứu trên chuột cống cho thấy việc cho uống dịch chiết ethanol từ thân cây với liều 500 mg/kg gây ra sự ức chế hấp thu glucose phụ thuộc vào liều lượng, làm tăng lượng sucrose dư thừa chưa bị hấp thu trong ống tiêu hóa được đo tại các thời điểm 30 phút, 1 giờ, 2 giờ và 4 giờ. Thử nghiệm trên mô hình chuột bị tiểu đường bởi streptozotocin (STZ, liều 50 mg/kg tiêm màng bụng) được cho uống dịch chiết ethanol từ lá Tơ mành (HBEE) với các liều 100 mg/kg và 200 mg/kg liên tục trong 21 ngày cho thấy sự cải thiện rõ rệt đối với các chỉ số sinh hóa máu. Điều trị bằng HBEE giúp kiểm soát tốt lượng glucose huyết thông qua phương pháp định lượng GOD-POD, phục hồi nồng độ albumin, protein toàn phần trong huyết thanh, làm giảm urea và creatinine về mức bình thường so với nhóm chứng bệnh lý.
- Hạ lipid máu: Thử nghiệm trên mô hình chuột cống Wistar đực (nặng 120 - 150 g) bị gây tăng lipid máu bằng chế độ ăn giàu chất béo (HFD) phối hợp điều trị liên tục trong 4 tuần chỉ ra rằng việc cho uống dịch chiết nước (HBAE) hoặc dịch chiết ethanol (HBEE) của lá Tơ mành ở các mức liều 100 mg/kg/ngày và 200 mg/kg/ngày đem lại hiệu quả điều hòa lipid máu rất mạnh (p < 0,05). Thuốc giúp làm giảm đáng kể cholesterol tổng số (TC), triglyceride (TG), lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL), lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL), tăng hàm lượng lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) cho hiệu quả tương đương với nhóm chuột đối chứng sử dụng thuốc chuẩn gemfibrozil ở liều 50 mg/kg/ngày.
- Kháng ung thư: Thử nghiệm sàng lọc hoạt tính kháng ung thư bằng phương pháp MTT trên các dòng tế bào ung thư ghi nhận dịch chiết methanol từ cây Tơ mành có khả năng ức chế sinh trưởng tế bào theo cách phụ thuộc vào liều lượng. Giá trị IC₅₀ của dịch chiết được xác định lần lượt là 50,73 µg/mL đối với dòng tế bào ung thư cổ tử cung (HeLa), 47,90 µg/mL đối với dòng tế bào ung thư vú (MCF-7), và 53,76 µg/mL đối với dòng tế bào hạch thần kinh (IMR-32). Cơ chế ngăn chặn tăng sinh trên dòng tế bào vú MCF-7 được chứng minh thông qua phương pháp tách chiết DNA, xác định dịch chiết có khả năng kích hoạt sự phân mảnh DNA đặc trưng của quá trình tự chết tế bào (apoptosis).
- Kháng khuẩn: Thử nghiệm đánh giá bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch đối với các dịch chiết từ lá và vỏ thân Tơ mành chống lại các chủng vi khuẩn bao gồm Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae, Bacillus subtilis, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa và Salmonella typhi.
- Diệt ký sinh trùng và côn trùng: Thử nghiệm hoạt tính kháng giun sán dựa trên việc xác định thời gian gây liệt và gây chết loài giun đất thực nghiệm Pheritima posthuma ở các nồng độ dịch chiết nước và dịch chiết ethanol từ lá gồm 5, 10 và 25 mg/mL cho thấy cả hai dịch chiết đều bộc lộ hoạt tính rõ rệt, trong đó dịch chiết nước thể hiện hiệu lực diệt giun mạnh hơn so với thuốc chuẩn đối chứng piperazine citrate. Đối với côn trùng gây hại và truyền bệnh, thử nghiệm dịch chiết acetone từ vỏ rễ cây Tơ mành chống lại bọ gậy và muỗi trưởng thành của 3 loài muỗi truyền bệnh Anopheles barbirostris, Culex quinquefasciatus, Aedes albopictus ghi nhận tác dụng diệt ấu trùng mạnh với giá trị LC₅₀ dao động thấp từ 11,15 - 16,78 ppm. Thời gian gây chết một nửa LT₅₀ đạt từ 1,25 - 4,84 giờ ở các nồng độ thử nghiệm 200 và 400 ppm, độ nhạy cảm A. albopictus > A. barbirostris > C. quinquefasciatus. Dịch chiết ít độc đối với muỗi trưởng thành nhưng có khả năng xua đuổi muỗi cái với thời gian bảo vệ đạt từ 57,66 - 135 phút (A. barbirostris), 72,41 - 134,16 phút (A. albopictus) và 47,66 - 93 phút (C. quinquefasciatus).
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Chữa di tinh, cơ thể suy kiệt, ra nhiều mồ hôi, đái rắt, thấp khớp cấp và mạn tính: Lá và thân sắc uống ngày 30-50g sắc uống, trẻ em dùng liều thấp hơn.
- Thuốc bó gãy xương: Cành non và lá tơ mành 30-50g, lá dâu tằm 25-30g, tất cả dùng tươi, giã nát, xào nóng, đắp vào chỗ xương rạn hoặc gãy, băng lại.
- Thuốc cầm máu vết thương, chữa sâu quảng: Lá dây tơ mành, lá quyển bá, rửa sạch, giã nát, dịt vào vết thương, băng lại. Có thể dùng lá dây tơ mành, phơi khô, đốt thành than, tán bột, rắc.
- Chữa lở loét ngoài da: Lá dây tơ mành 20g, lá bạc thau 20g, lá xuyên tiêu 20g, lá trầu không 10g, lá thuốc lào 2g. Tất cả dùng tươi, rửa sạch, giã nát, xào nóng rồi đắp ngày 1 lần.














.png)