Trường sinh lá to (Kalanchoe crenata (Andrews) Haw.) hay còn được gọi là trường sinh lá muỗng là loài cây bụi mọng nước thuộc họ Trường sinh (Crassulaceae) có nguồn gốc từ châu Phi và hiện được trồng làm cảnh hoặc mọc tự nhiên tại một số vùng của Việt Nam. Theo y học cổ truyền, lá của loài cây này được dùng chữa bệnh ngoài da. Theo y học hiện đại, loài cây này đã được chứng minh chúng có một số giá trị dược lý tiềm năng đối với bệnh chuyển hóa cùng các tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm,...

Tên gọi khác: Trường sinh lá muỗng, sống đời lá to
Tên khoa học: Kalanchoe crenata (Andrews) Haw.
Họ thực vật: họ Trường sinh - Crassulaceae
Phân bố và sinh thái: cây có nguồn gốc ở châu Phi và Ả Rập. Tại Việt Nam, cây có ở một số tỉnh như Hà Giang, Ninh Bình, Kiên Giang. Cây mọc tự nhiên, còn được trồng làm cảnh.
Đặc điểm thực vật
Cây bụi, cao 1-2m
Lá có kích thước 40–250 × 15–150 mm, mọc đối, hình trứng, màu xanh, nhẵn bóng, gốc lá hình nêm cho đến tròn, mép lá khía răng cưa không đều, chóp lá nhọn; cuống lá dài 10–40 mm.
Cụm hoa đường kính lên đến 30 cm khi nở, dạng chùm xim ngù kép, mang từ 30–100 hoa, cuống hoa dài 3–8 mm, đài hoa dài 4–7 mm, các thùy dài 2.5–5 mm, hình trứng, màu xanh lục nhạt, thường có các sọc màu đỏ, chóp thùy có đuôi nhọn, tràng hoa dài 12–20 mm, màu vàng nhạt đến vàng tươi, màu cam hoặc đỏ
Quả đại, dài 6–9 mm.
Mùa hoa quả: tháng 3-4
Bộ phận dùng: lá
Công dụng
Y học cổ truyền
Thổ tả (Lá sắc uống). Bỏng (Lá giã lấy nước bôi). Vết thương, mụn nhọt (Lá giã đắp).
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: từ cây đã phân lập được một số hợp chất đặc trưng và được coi là dấu ấn sinh học bao gồm Patuletin 3-O-(4″-O-acetyl-α-L-rhamnopyranosyl)-7-O-(3‴-O-acetyl-α-L-rhamnopyranoside); Patuletin 3-O-α-L-rhamnopyranosyl-7-O-L-rhamnopyranoside; Trans-caffeoyl-malic acid. Ngoài ra còn phân lập các hợp chất khác: flavonoid khác (như xanthone), anthraquinone, bryophyllin A và B, và hàm lượng cao malic acid tự do trong mô sẹo của cây. Lá cây rất giàu các nguyên tố đa lượng, vi lượng, vitamin, ascorbic acid (vitamin C), và carbohydrate mạch dài inulin. Ngoài ra còn chứa saponin, alkaloid, terpenoid và polysaccharide trong các dịch chiết thô.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra tác dụng dược lý của trường sinh lá to dựa trên các mô hình thử nghiệm in vitro và in vivo:
- Chống sa sút trí tuệ, cải thiện trí nhớ và bệnh Alzheimer: Dịch chiết nước của K. crenata có tác dụng bảo vệ hệ thần kinh trung ương chống lại chứng mất trí nhớ trên mô hình sa sút trí tuệ mô phỏng bệnh Alzheimer bằng D-galactose (350 mg/kg); làm giảm rõ rệt thời gian tìm ra bục ngầm trong thử nghiệm mê lộ nước Morris và tăng thời gian chuột lưu lại ở góc phần tư có bục; cải thiện chỉ số phân biệt hành vi trong thử nghiệm nhận diện vật thể mới. Về cơ chế bảo vệ tế bào não, dịch chiết đảo ngược hoàn toàn tình trạng stress oxy hóa và phản ứng viêm do D-galactose kích hoạt tại não bộ, làm giảm thiểu rõ rệt sự mất mát tế bào thần kinh tại vùng hải mã. Hiệu quả cải thiện nhận thức của dịch chiết tương đương với thuốc điều trị Alzheimer lâm sàng donepezil.
- Chống tăng huyết áp: Trên mô hình chuột cống gây tăng huyết áp mạch thận bằng phương pháp thắt một bên động mạch thận (2K1C - hai thận một kẹp), việc phối hợp dịch chiết nước K. crenata cùng với thuốc huyết áp losartan giúp làm giảm mạnh huyết áp tâm thu, đồng thời ức chế hoạt tính của enzyme Matrix Metalloproteinase-2.
- Trên tim: Thử nghiệm tiêm tĩnh mạch phân đoạn n-butanol từ lá (liều 2–10 mg/kg) giảm huyết áp tạm thời và làm chậm nhịp tim kéo dài khoảng 10 phút. Trên điện tâm đồ (ECG), dịch chiết kéo dài các khoảng PR, QRS và QT. Đánh giá trên cơ nhú tâm thất cô lập của chuột lang, dịch chiết (300–1000 μg/mL) làm tăng biên độ co bóp cơ tim từ 137,6% đến 223%. Trên điện thế hoạt động của tế bào cơ tim, dịch chiết (100 μg/mL) làm chậm quá trình tái cực phụ thuộc thời gian (tăng thời gian tái cực 90% lên thêm 52,7%). Các dữ liệu này chứng minh K. crenata có đặc tính chẹn kênh Kali trên cơ tim.
- Giảm đau: Dịch chiết chiết bằng methylene chloride/methanol (1:1) và phân đoạn methylene chloride (CH₂Cl₂) của lá thể hiện tác dụng giảm đau mạnh trên các mô hình gây đau do acid acetic, đau do viêm (formalin) và đau do nhiệt/áp lực. Phân đoạn CH₂Cl₂ (liều 300 mg/kg) ức chế 78,49% cơn quặn đau do acid acetic, làm giảm hơn 45% độ nhạy cảm đau do áp lực và ức chế hoàn toàn pha 2 (pha đau do viêm mạn tính) của thử nghiệm formalin.
- Chống co thắt cơ trơn ruột: Phân đoạn n-butanol của lá làm giãn cơ và giảm biên độ co thắt tự phát của ruột non cô lập ở chuột cống và chuột lang. Nó ức chế không cạnh tranh đối với các cơn co thắt cơ trơn ruột gây ra bởi KCl, carbachol và histamine. Tác dụng giãn cơ này bị đối kháng một phần (40%) bởi prazosin cho thấy hoạt chất trong phân đoạn n-butanol can thiệp trực tiếp vào quá trình chuyển hóa và trao đổi ion Canxi (Ca²⁺) trong tế bào cơ trơn.
- Kháng viêm: Phân đoạn n-butanol (600 mg/kg) ức chế mạnh sự phù nề bàn chân chuột gây ra bởi carrageenan (giảm 45%), histamine (giảm 47,51%), serotonin (giảm 54,71%) và formalin (giảm 40%). Trong mô hình viêm mạn tính, dịch chiết đạt tỷ lệ ức chế hạch viêm 61,26% vào ngày thứ 9. Đáng chú ý, kiểm tra chỉ số loét dạ dày của dịch chiết K. crenata bằng 0 hoặc không đáng kể (0,4 ± 0,2), chứng minh thuốc không gây loét kích ứng dạ dày
- Chống co giật: Dịch chiết thô giúp kéo dài thời gian tiềm tàng của các cơn co giật gây ra bởi pentylenetetrazol (PTZ), làm giảm thời gian co giật tổng thể gây ra bởi PTZ, strychnine sulfate (STN) và thiosemicarbazide (TSC), đồng thời bảo vệ 20% động vật khỏi tử vong do độc chất TSC và STN.
- Trên chuyển hóa: Trên mô hình chuột đái tháo đường typ 2 do chế độ ăn nhiều năng lượng, uống dịch chiết nước-ethanol của lá (200 mg/kg) liên tục trong 4 tuần giúp giảm 52% nồng độ glucose trong máu, duy trì đường huyết ở mức ổn định an toàn. Đồng thời, thuốc làm tăng mạnh chỉ số nhạy cảm với insulin (KITT), kìm hãm sự tăng trọng lượng cơ thể quá mức và giảm lượng thức ăn/nước uống nạp vào, hiệu quả tương đương glibenclamide.Trên chuột bị bệnh thận do tiểu đường kích hoạt bởi streptozotocin, uống dịch chiết methanol (68 mg/kg) trong 6 tuần giúp giảm đường huyết (44%), đường niệu (47%) và giảm 80% protein niệu. Thuốc làm giảm hàm lượng chất chỉ thị độc tính malondialdehyde (MDA), kích tăng hoạt tính của các enzyme chống oxy hóa nội sinh gồm superoxide dismutase (SOD, tăng 118–257%) và catalase (CAT, tăng 96–176%) tại máu, gan và thận. Chỉ số xơ vữa động mạch cũng giảm 31% nhờ hạ mạnh cholesterol xấu (LDL, triglyceride) và tăng cholesterol tốt (HDL).
- Bảo vệ thận trước độc tính hóa trị: Trên mô hình suy thận cấp/mạn do hóa chất adriamycin, dịch chiết methanol của cây làm giảm đáng kể tình trạng thoát protein qua nước tiểu, giảm bài tiết creatinine, urea; đồng thời làm giảm nồng độ creatinine, urea, kali huyết thanh và phục hồi các enzyme chức năng gan (ALT, AST). Hiệu quả bảo vệ và phục hồi cấu trúc vi thể của thận trong mô hình này được ghi nhận tốt hơn thuốc bảo vệ thận lâm sàng losartan.
- Kháng khuẩn: Nước ép tươi đạt giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) 8 mg/mL đối với các vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella pneumoniae và Bacillus subtilis; đạt 32 mg/mL đối với Shigella flexneri và 64 mg/mL đối với Escherichia coli. Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) đạt 256 mg/mL đối với hầu hết các chủng vi khuẩn thử nghiệm.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
Ở châu Phi, cây được dùng để điều trị viêm tai giữa, đau đầu, viêm nhiễm, co giật và suy nhược cơ thể.














.png)