Mua vảy (Melastoma candidum D. Don hay Melastoma malabathricum L.) còn được gọi là muôi trắng, muôi bảy gân là loài cây bụi nhiều lông thuộc họ Mua (Melastomataceae), mọc hoang dã phổ biến từ các vùng đồi núi đến đồng bằng khắp nước ta. Hiện nay, y học hiện đại ngày càng quan tâm đến loại cây này nhờ chứa nguồn hệ thành phần hóa học đặc trưng phong phú, chứng minh nhiều tác dụng dược lý trên thực nghiệm.

Tổng quan

Tên gọi khác: muôi trắng, muôi bảy gân

Tên khoa học: Melastoma candidum D. Don 

Tên đồng nghĩa: Melastoma malabathricum L.

Họ thực vật: họ Mua - Melastomaceae  

Phân bố và sinh thái: nguồn gốc tại Ðông Dương, mọc hoang ở vùng đồi núi và cũng gặp ở vùng đồng bằng trong các bụi cây, ven đường đi, ở chỗ dốc.  

Đặc điểm thực vật

Cây bụi. Cành non có nhiều lông. 

Lá mọc đối, hình bầu dục, mặt trên ráp và có lông ngắn, cứng, mặt dưới có nhiều lông mềm. Gân lá nổi rõ ở cả hai mặt. 

Hoa có 5 cánh to màu tím. 

Quả hình trứng, có lông. 

Bộ phận dùng: lá

Công dụng

Y học cổ truyền

Vị đắng chát, tính bình; có tác dụng giải độc tiêu thũng, tán ứ tiêu tích trệ, lại có tính thu liễm, cầm máu 

Băng huyết, vàng da (Lá sắc uống). Mụn nhọt, đinh râu (Lá tươi hơ nóng đắp).Tụ máu (Lá tươi trộn nước vo gạo đắp). 

Y học hiện đại

Thành phần hóa học: từ lá thu được các nhóm hợp chất bao gồm tannin, polyphenol, flavonoid, triterpene, steroid, axit hữu cơ, phenols, saponins và glycosides. Một số chất đã phân lập từ lá cụ thể như sau: Castalagin, Procyanidin B-2, Acidic polysaccharides (rhamnogalacturonan, homogalacturonan, rhamnose hexose-pectic), Helichrysoside, Quercitrin, Isoquercitrin, Rutin, Quercetin, α-amyrin, Betulinic acid, Ursolic acid, 2-hydroxyursolic acid, Asiatic acid, β-sitosterol-3-O-D-glucopyranoside, Cinnamic acid, para-hydroxycinnamic acid, 3,4-Dehydroproline amide, Mefloquine, 2-(3,5-+Diphenyl-pyrazol-1-yl)benzothiazole, Kaempferol-3-O-(2″,6″-di-O-trans-p-coumaroyl)-β-D-glucopyranoside. Từ hoa phân lập được Naringenin, Kaempferol, Kaempferol-3-O-D-glucoside, Kaempferol-3-O-(2″,6″-di-O-p-trans-coumaroyl)glucoside, Ellagic acid. Từ quả phâm lập được nhóm Anthocyanins đặc trưng bao gồm Cyanidin dihexoside, Cyanidin hexoside và Delphinidin hexoside. Dịch chiết cồn giàu hợp chất phenolic (384.33 mg/g) và flavonoid (85.8 mg/g) 

Các thử nghiệm dược lý in vitro và in vivo đã chỉ ra công dụng của loài cây này:

  • Giãn mạch hạ huyết áp: Thử nghiệm tiêm tĩnh mạch ba hợp chất Castalagin, Procyanidin B-2, và Helichrysoside trên chuột cao huyết áp tự phát (SHR) làm giảm rõ rệt huyết áp trung bình. Các hợp chất này làm giảm nồng độ Noradrenaline (NA) trong huyết tương ở cả trạng thái nền (chuột SHR) và trạng thái kích ứng bởi stress lạnh (chuột bình thường). Hiệu ứng này không bị can thiệp bởi phẫu thuật cắt bỏ tuyến thượng thận, chứng tỏ cơ chế tác động trực tiếp làm giảm phóng thích NA từ các đầu dây thần kinh giao cảm. 
  • Bảo vệ thần kinh: Bốn Flavonoid phân lập từ lá Mua vảy thể hiện khả năng khóa enzyme MAO-B, cụ thể Rutin có hoạt lực mạnh nhất với chỉ số IC₅₀ = 3.89 μM và hằng số ức chế Kᵢ = 1.83 μM; Quercetin: Chỉ số IC₅₀ = 10.89 μM và hằng số ức chế Kᵢ = 7.95 μM; Isoquercitrin: Chỉ số IC₅₀ = 11.64 μM và hằng số ức chế Kᵢ = 2.72 μM; Quercitrin: Chỉ số IC₅₀ = 19.06 μM và hằng số ức chế Kᵢ = 21.01 μM.
  • Giảm đau: Dịch chiết ethanol từ lá (liều 30–300 mg/kg, i.p.) ức chế mạnh phản ứng đau quặn bụng do axit acetic gây ra ở chuột với chỉ số ED₅₀ = 100 mg/kg. Đồng thời, nó kéo dài đáng kể thời gian đáp ứng với kích thích nhiệt trong thử nghiệm đĩa nóng. 
  • Chống viêm: Các hoạt chất Flavonoid và Triterpene pentacyclic gồm Quercetin, Quercitrin, α-amyrin, và Betulinic acid có khả năng ức chế chọn lọc sự liên kết của Yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (PAF) vào thụ thể trên tiểu cầu thỏ với các giá trị IC₅₀ lần lượt là 33.0, 45.4, 20.0 và 22.2 μM (chất đối kháng chuẩn Cedrol 13.1 μM).
  • Hạ đường huyết: Ức chế enzyme thủy phân đường (In vitro): Dịch chiết methanol lần đầu tiên được chứng minh có khả năng khóa hai enzyme chủ chốt là α-glucosidase (IC₅₀ = 75.25 ± 1.60 μg/mL) và α-amylase (IC₅₀ = 52.38 ± 1.32 μg/mL). Trên mô hình chuột đái tháo đường do STZ, liều 200 mg/kg dịch chiết methanol làm giảm nồng độ glucose máu tới 51.01% sau 15 ngày điều trị. Đối với mô hình chuột bị gây đái tháo đường bằng Alloxan, việc sử dụng dịch chiết ethanol (liều 150 và 300 mg/kg) trong 14 ngày giúp phục hồi cân nặng, giảm lượng huyết sắc tố đã glycosyl hóa (HbA1c) và đảo ngược các chỉ số lipid máu (Cholesterol, Triglycerides, LDL, VLDL) về mức cận bình thường.
  • Chống béo phì: Dịch chiết ngăn chặn hiệu quả sự gia tăng trọng lượng cơ thể, kiểm soát hàm lượng cholesterol tổng, LDL, HDL và tổng lượng lipid trong máu; làm giảm đáng kể trọng lượng của các mô mỡ nội tạng phức tạp bao gồm mỡ mào tinh hoàn (E-fat), mỡ sau phúc mạc (R-fat), giảm nồng độ phospholipid
  • Chữa lành vết thương: Nghiên cứu in vivo sử dụng Gel chiết xuất cồn từ lá Mua vảy (nồng độ 1%, 5% và 10%) trên mô hình chuột sau phẫu thuật nhổ răng cửa hàm dưới cho thấy hiệu quả tích cực rõ rệt. Sự can thiệp của các hoạt chất thúc đẩy gia tăng mạnh số lượng tế bào sợi (fibroblasts) và nâng cao điểm số mật độ sợi collagen tại ổ răng. Tiến trình này giúp rút ngắn thời gian biểu mô hóa, đẩy nhanh tốc độ đóng kín và phục hồi tổn thương cấu trúc niêm mạc.
  • Bảo vệ dạ dày: Dịch chiết phân đoạn Ethyl acetate (EAMM) từ lá có tác dụng bảo vệ niêm mạc chống lại vết loét do cồn tuyệt đối (Ethanol). Cơ chế tác động thông qua việc giảm tiết axit, tăng dịch nhầy niêm mạc, tăng hoạt tính antioxidant nội sinh. 
  • Bảo vệ gan: Tiền xử lý bằng dịch chiết methanol (50, 250, 500 mg/kg) trong 7 ngày giúp bảo vệ gan chuột nhiễm độc Paracetamol liều cao. Dịch chiết giúp kiểm soát cấu trúc tiểu thùy gan ổn định và hạ thấp đáng kể các enzyme gan ALT, AST, ALP
  • Kháng ung thư: Dịch chiết methanol và chloroform từ lá Mua vảy bộc lộ khả năng ức chế tăng sinh tế bào trên diện rộng đối với nhiều dòng tế bào ung thư người bao gồm: Caov-3 (ung thư buồng trứng), HL-60 và CEM-SS (bạch cầu cấp), MCF-7 và MDA-MB-231 (ung thư vú), HeLa (ung thư cổ tử cung). Thử nghiệm in vivo trên chuột bị gây u vú bằng hóa chất DMBA cho thấy dịch chiết làm giảm mạnh tỷ lệ xuất hiện u, giảm thể tích và trọng lượng trung bình của khối u. Nó hoạt hóa hệ thống enzym ty thể (ICDH, SDH, MDH, α-KGDH), tăng cường các chỉ số SOD, Catalase nội sinh và dập tắt các cytokine gây viêm dị biệt hệ thống (TNF-α, IL-1β, IL-6).
  • Tăng cường khả năng sinh sản nam: Thử nghiệm dịch chiết ethanol từ lá trên chuột bạch tạng đực cho thấy tác động kích thích mạnh lên hệ nội tiết sinh sản: Làm tăng trọng lượng tương đối của tinh hoàn và mào tinh hoàn. Tăng đáng kể mật độ tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng di động và giảm các bất thường về hình thái tinh trùng. Kết quả định lượng hormone ghi nhận sự tăng vọt của nồng độ LH và Testosterone trong huyết thanh, trong khi nồng độ FSH và Estrogen bị sụt giảm. Động vật đực được điều trị cho thấy tần suất thụ tinh chuột cái thành công cao hơn, kéo theo số lượng phôi làm tổ và số thai nhi sống sót tăng lên rõ rệt.
  • Kháng khuẩn: Các dịch chiết axeton và ethanol cho nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) rất thấp, đặc biệt là hơn 1/3 giá trị MIC của chúng tương đương hoặc bằng với kháng sinh Amoxicillin. Chỉ số ức chế dòng vi khuẩn từ lá (M. candidum): Dịch chiết Axeton: MIC = 0.02–0.64 mg/mL; MBC (diệt khuẩn) = 0.08–2.56 mg/mL; dịch chiết Ethanol: MIC = 0.04–1.28 mg/mL; MBC (diệt khuẩn) = 0.16–5.12 mg/mL. Dịch chiết cồn tạo ra các vòng kháng khuẩn lớn chống lại hai vi khuẩn Gram dương là Staphylococcus aureus (11 mm) và Streptococcus agalactiae (12 mm), đồng thời kiểm soát tốt các chủng Gram âm như Escherichia coliKlebsiella pneumoniae.

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

Chữa lỵ trực trùng: Mua và Thồm lồm, mỗi vị 60g, nấu nước uống.

Chữa mụn nhọt đinh râu: Lá Mua tươi giã hơ nóng đắp. Có thể phối hợp với lá Cà pháo.

Chữa thương tụ máu sưng tấy: Lá Mua tươi giã ra, trộn với nước vo gạo đắp. Hoặc giã lá Mua tươi, chế thêm ít giấm, chưng nóng đắp.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)