Rưng rìa (Rungia pectinata (L.) Nees) là loài cây thuộc họ Ô rô (Acanthaceae), phân bố ở một số tỉnh Tây Nguyên của Việt Nam như Kon Tum, Đắk Lắk và Đắk Nông. Theo dân gian, cây được dùng trong các bài thuốc nhằm thanh nhiệt, giải độc và hỗ trợ điều trị một số rối loạn tiêu hóa. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu hiện đại đã bước đầu làm rõ thành phần hóa học cũng như một số tác dụng sinh học của loài cây này.

Tổng quan

Tên gọi khác: Rung quả nhỏ, rung hoa nhỏ, rung rìa, hài nhi thảo, thứ vi hoàng

Tên khoa học: Rungia pectinata (L.) Nees

Họ thực vật: họ Ô rô - Acanthaceae

Phân bố và sinh thái: Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, vùng núi chuyển tiếp Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Đặc điểm thực vật

Cây thảo nhỏ, cao khoảng 0,4 m, cành mềm mọc tỏa rộng. 

Lá cây mọc đối, hình mác, gốc lá thon, đầu lá hơi nhọn, mép nguyên, hai mặt lá có lông tập trung ở gân. 

Hoa mọc thành bông ngắn ở kẽ lá hoặc đầu cành, với lá bắc mọc đối xếp thành 4 hàng, trong đó hai hàng không mang hoa; lá bắc con hình dải, đầu hơi nhọn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh hoặc trắng; đài có 5 răng hình chỉ, phủ lông; tràng hoa chia thành hai môi, môi dưới có 3 thùy, mỗi thùy hơi tam giác. Nhị 2 gắn vào họng tràng, không có nhị lép; bao phấn 2 ô, ô dưới có cựa.

Quả dạng nang dài, chứa hạt hình thấu kính với bề mặt ráp. 

Cây ra hoa và kết quả từ tháng 11 đến tháng 2.

Bộ phận dùng: toàn cây

Công dụng

Y học cổ truyền

Vị nhạt hơi đắng, tính mát. Trong y học cổ truyền, cây được đánh giá có công năng thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, thanh can hỏa và tiêu tích, phù hợp sử dụng cho các trường hợp nóng sốt hoặc rối loạn tiêu hóa.

Y học hiện đại

Nhiều nghiên cứu ghi nhận Rungia pectinata chứa các hợp chất thứ cấp như phytosterol, terpen, tanin, flavonoid và carbohydrat trong các bộ phận trên mặt đất. Ngoài ra, dược liệu còn chứa các nhóm hợp chất như alkaloid, polyphenol, glycosid, coumarin và đường khử. Tinh dầu của cây (thu bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước) có hiệu suất khoảng 0,15%, trong đó thành phần chính là trans-phytol, hexahydrofarnesyl acetone, isophytol các monoterpenoid, sesquiterpenoid và diterpenoid.

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy Rungia pectinata có tiềm năng:

  • Chống viêm: dịch chiết ethanol và hydroalcohol thể hiện hoạt tính chống viêm trên mô hình in vivo thông qua ức chế các yếu tố như NF-κB và cytokine
  • Lợi tiểu: cao chiết ethanol cho thấy khả năng tăng thải Na⁺, K⁺, Cl⁻ trên mô hình chuột nhắt trắng
  • Kháng khuẩn, kháng nấm: các dịch chiết (ethanol, acetone, chloroform…) cho thấy hoạt tính ức chế nhiều vi khuẩn như Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus subtilis, Bacillus cereus và nấm như Aspergillus niger, Candida albicans, Fusarium oxysporum

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

  • Trị đau bụng: Toàn cây rung rìa, dùng tươi hoặc phơi khô, lấy khoảng 20 g, kết hợp cùng kỷ tử 20g, hoàng liên 10g và cam thảo 6g. Các nguyên liệu được cho vào 500 ml nước và sắc đến khi sôi, sau đó lọc bỏ bã, chia nước thuốc thành nhiều lần uống trong ngày để hỗ trợ giảm đau bụng và cải thiện tiêu hóa.
  • Thanh nhiệt, hạ sốt: Dùng Rưng rìa 15g, hoa hòe 15g, thổ phục linh 10g và cam thảo 6g. Các thảo dược được chế biến tương tự như bài thuốc trị đau bụng, sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày để giúp thanh nhiệt, hạ sốt và cải thiện các triệu chứng nóng trong cơ thể.
  • Chữa viêm gan: Bài thuốc gồm Rưng rìa 15g, bạch chỉ 15g, hoàng cầm 10g và kim ngân hoa 6 g. Hỗn hợp thảo dược được sắc với 500ml nước, sau khi sôi, lọc bỏ bã và chia thành nhiều lần uống, giúp hỗ trợ giảm viêm và tăng cường chức năng gan.
  • Dùng cho trẻ em cam tích (suy dinh dưỡng): Lấy Rưng rìa 10g, diệp hạ châu 10g, thục địa 6g và cam thảo 3g. Các thảo dược được sắc với 300ml nước, sau khi sôi, lọc bỏ bã. Liều dùng điều chỉnh tùy theo độ tuổi trẻ và luôn phải được giám sát bởi người lớn khi sử dụng. Bài thuốc này thường được dùng để hỗ trợ điều trị nóng sốt, đầy bụng hoặc tình trạng cam tích ở trẻ nhỏ.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)