Cỏ roi ngựa (Verbena officinalis L.) còn có tên gọi khác là mã tiền thảo là loài cây thân thảo sống lâu năm thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), thường mọc phổ biến ở các vùng trung du và miền núi từ Bắc vào Nam. Trong y học cổ truyền, cỏ roi ngựa là vị thuốc nổi tiếng với công năng phá huyết, thông kinh, sát trùng. Y học hiện đại cũng quan tâm đến loại dược liệu này. Ngày nay, nhiều nghiên cứu khoa học đã góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về hóa thực vật cũng như tác dụng dược lý của cây cỏ roi ngựa.

Tổng quan
Tên gọi khác: Mã tiền thảo, Nhả tháng én (Tày), Rgồ mí (KHo), Verveine (Pháp)
Tên khoa học: Verbena officinalis L.
Họ thực vật: họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae
Phân bố và sinh thái: thường gặp ở vùng núi và vùng trung du từ Bắc vào Nam
Đặc điểm thực vật
Thân thảo, nhỏ, sống lâu năm, chiều cao trung bình khoảng 10 cm đếm 1 mét. Lá dài khoảng 2 – 8 cm, rộng khoảng 1,4 cm.
Lá có hình lông chim, có răng cưa, không có cuống hoặc cuống rất ngắn.
Hoa mọc thành chùm dài ở ngọn cây, thường mọc thành nhiều hoa nhỏ, màu xanh hoặc tím xanh. Hoa lưỡng tính, không đều, có nhiều bông hình sợi, các lá bắc có mũi nhọn. Hoa thường có 5 đài, có lông mịn, tràng có ống hình trụ, uốn cong, có 5 thùy nhỏ, bầu có 4 ô.
Quả nang có 4 nhân, hạt không có nội nhũ.
Mùa hoa quả: tháng 3-11
Bộ phận dùng: toàn cây
Công dụng
Y học cổ truyền
Vị đắng, tính hàn, quy kinh tỳ và can. Tác dụng: Phá huyết, thông kinh, sát trùng. Chữa sốt rét, giun chỉ, sán máng, cảm lạnh, sốt, viêm họng, ho gà, viêm dạ dày ruột cấp, lỵ amip, viêm gan, vàng da, cổ trướng, viêm thận, phù thũng, viêm nhiễm đường tiết niệu, loét bìu, bế kinh, kinh nguyệt không đều, làm cho mau đẻ, đòn ngã tổn thương, viêm mủ da
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Cỏ roi ngựa (Verbena officinalis) chứa hệ thành phần hóa học phong phú. Nhóm chất chuyển hóa thứ cấp chính quyết định hoạt tính sinh học của dược liệu này là các iridoid glycosid bao gồm verbenalin (verbenalosid), aucubin (verbenin) và hastatosid; cùng với các phenylpropanoid glycosid và các dẫn chất của acid caffeic như verbascosid (acteosid), isoverbascosid (isoacteosid) và eukovosid. Ngoài ra, nhiều flavonoid cũng đã được xác định trong các dịch chiết từ cỏ roi ngựa bao gồm kaempferol, luteolin và apigenin, scutellarein và pedalitin. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các acid phenolic như acid chlorogenic, ferulic, protocatechuic, rosmarinic và các dẫn chất của acid dicaffeoylquinic cũng rất đáng chú ý. Các nghiên cứu sơ bộ chỉ ra hàm lượng iridoid, phenylpropanoid glycosid, flavonoid và acid phenolic đạt mức cao nhất ở nguyên liệu thu hái vào giai đoạn nở hoa hoàn toàn. Các hợp chất chính được ghi nhận gồm: verbenalin (tối đa 6196 mg/100 g chất khô), verbascosid (tối đa 2264 mg/100 g chất khô), hastatosid (tối đa 582 mg/100 g chất khô), scutellarin (tối đa 248 mg/100 g chất khô) và isoverbascosid (tối đa 242 mg/100 g chất khô). Các hợp chất terpenoid được tìm thấy trong cỏ roi ngựa bao gồm: Monoterpenoid (citral, limonene, cineole, carvone), Diterpenoid (carnosol, acid carnosic, rosmanol, isorosmanol), Sesquiterpenoid (caryophyllene oxide, α-curcumane), Triterpenoid (acid ursolic và các dẫn chất của nó). Phân tích hóa thực vật cho thấy dịch chiết methanol từ thân Verbena officinalis chứa các sterol như α-sitosterol, β-sitosterol và daucosterol. Ngoài ra dược liệu còn chứa các carbohydrat như acid galacturonic, arabinose, galactose, rhamnose, xylose, mannose và glucose; đồng thời chứa hàm lượng đáng kể các khoáng chất bao gồm kali, phospho, calci, magnesi, kẽm, sắt, mangan và đồng. Tinh dầu từ cây bao gồm khoảng 40 hợp chất, chủ yếu là các monoterpenoid như citral, limonene, cineole và carvone
Hiện nay, các nghiên cứu về tác dụng dược lý của cỏ roi ngựa khá phong phú:
- Chống oxy hóa: thử nghiệm DPPH (2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl) cho thấy dịch chiết ethanol 50% và dịch chiết nước đều có hoạt tính bắt giữ gốc tự do mạnh với giá trị IC₅₀ của dịch chiết ethanol là 21,04 ± 1,61 µg/mL, dịch chiết nước là 33,8 ± 0,43 µg/mL. Các dịch chiết này cũng thể hiện tác dụng ức chế xanthine oxidase với giá trị IC₅₀ lần lượt là 12,77 ± 1,65 µg/mL đối với dịch chiết ethanol và 18,05 ± 3,80 µg/mL đối với dịch chiết nước.
- Kháng khuẩn: một nghiên cứu chỉ ra dịch chiết ethanol từ thân, lá và rễ có tác dụng với 13 chủng vi khuẩn với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) dao động từ 0,02 đến 0,15 mg/mL, trong đó dịch chiết từ thân nhìn chung cho hoạt tính cao hơn lá và rễ. Chủng Acinetobacter baumannii (ATCC 29213) nhạy cảm nhất với mức MIC đạt 0,02 mg/mL cho cả ba bộ phận; các chủng Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) và Salmonella typhi đa kháng thuốc cũng bị ức chế hiệu quả ở mức MIC từ 0,2 đến 0,8 mg/mL, Escherichia coli (ATCC 25922) kém nhạy cảm nhất với MIC đồng đều là 0,15 mg/mL. Một nghiên cứu khác cho kết quả dung dịch chứa 100 mg/mL dịch chiết khô hòa tan trong ethanol 30% với đường kính vòng ức chế sinh trưởng hoàn toàn đạt lần lượt là 21,12 mm đối với E. coli, 16,33 mm đối với P. vulgaris và 15,32 mm đối với B. subtilis.
- Kháng nấm: dịch chiết methanol 50% cho thấy tác dụng kháng nấm trên P. expansum và R. stolonifer với mức ức chế sinh trưởng lần lượt đạt 32,55% và 28,98%.
- Chống viêm: thử nghiệm mù đôi sử dụng nước sắc từ phần trên mặt đất của Verbena officinalis trong điều trị viêm lợi mạn tính dược tiến hành cho người bệnh sử dụng 10 mL dung dịch, ngày hai lần, sau khi đánh răng 30 phút, tình trạng nướu và lượng mảng bám răng được theo dõi vào ngày thứ 14 và ngày thứ 28 cho kết quả tác dụng chống viêm nướu rõ rệt và giảm mảng bám. Một nghiên cứu khác trên mô hình chuột gây phù chân bằng carrageenan, dịch chiết được cho uống với liều 100 và 200 mg/kg và dùng Indomethacin làm đối chứng ở liều 100 µg/kg. Kết quả cho thấy tất cả các dịch chiết đều có tác dụng chống viêm rõ rệt trong đó dch chiết methanol và dịch chiết giàu flavonoid làm giảm mức độ viêm lần lượt 38% và 34%,dịch chiết CO₂ siêu tới hạn thể hiện hoạt tính mạnh nhất với mức độ giảm viêm tới 61%.
- Giảm đau tại chỗ: được đánh giá thông qua việc theo dõi số lần chuột liếm chân sau khi bôi các chế phẩm thử nghiệm bao gồm thuốc mỡ chứa 1–3% dịch chiết cỏ roi ngựa, 0,3 g tá dược thuốc mỡ hoặc thuốc mỡ chứa 30% Methyl salicylate kết hợp với tiêm 50 µL dung dịch formalin 2,5% vào bàn chân để gây đau. Sau khi tiêm formalin, chuột được theo dõi trong 60 phút. Kết quả cho thấy dịch chiết V. officinalis có tác dụng giảm đau rõ rệt thể hiện qua việc làm giảm đáng kể số lần liếm chân so với nhóm đối chứng
- Chống co giật: Dịch chiết làm chậm thời gian khởi phát các cơn co giật giật cơ và co giật cứng - rung một cách phụ thuộc vào liều lượng, đồng thời rút ngắn thời gian co giật. Trên mô hình gây co giật bằng PTZ, nhóm đối chứng có tỷ lệ tử vong là 100%; khi dùng dịch chiết Cỏ roi ngựa liều 100 mg/kg, tỷ lệ tử vong giảm xuống còn 75% và ở các mức liều từ 300 đến 500 mg/kg, tỷ lệ tử vong giảm về 0% (tương đương hiệu quả của diazepam liều 1 mg/kg). Trên mô hình kích thích co giật bằng dòng điện, dịch chiết 400 mg/kg cho hiệu quả bảo vệ tương đương với diazepam 1 mg/kg.
- Chống lo âu và an thần: Việc dùng dịch chiết ở các liều 50, 100 và 300 mg/kg làm giảm đáng kể tần suất di chuyển từ 121,75 (nhóm đối chứng) xuống lần lượt là 109; 106,5 và 74,25; đồng thời giảm tần suất rướn người (rearing) từ 52,25 xuống còn 42,5; 39,5 và 24,25. Ngược lại, các mức liều này làm tăng số lần băng qua các ô trung tâm từ 6,25 (đối chứng) lên lần lượt là 11,25; 15,0 và 10,75, thể hiện hành vi giảm lo âu rõ rệt.
- Tác dụng lên giấc ngủ: Trong thử nghiệm với thiopental, nhóm đối chứng có thời gian khởi phát ngủ là 3,53 phút và kéo dài 8,25 phút. Các liều dịch chiết 50, 100 và 300 mg/kg giúp đẩy nhanh thời gian chìm vào giấc ngủ (xuống lần lượt còn 2,61; 2,39 và 1,6 phút) và kéo dài thời gian ngủ một cách vượt trội (lần lượt lên tới 14,50; 66,35 và 523,65 phút). Ở mức liều 300 mg/kg, hiệu quả này đạt trạng thái tương đương với diazepam liều 3 mg/kg (khởi phát ngủ sau 1,32 phút, thời gian ngủ trung bình 571,8 phút). Một nghiên cứu khác chỉ ra dịch chiết nước Cỏ roi ngựa trên mô hình chuột cống ở mức liều 9 g/kg trọng lượng cơ thể giúp tăng 25,7% tổng thời gian ngủ NREM trong vòng 12 giờ ngủ liên tiếp so với nhóm đối chứng. Đồng thời, số chu kỳ xuất hiện pha NREM tăng từ khoảng 138 lên 149 chu kỳ, và thời lượng của một chu kỳ đơn lẻ được kéo dài từ 1,2 lên 1,4 phút.
- Tác dụng bảo vệ thần kinh: Các tế bào thần kinh vỏ não chuột nuôi cấy được xử lý bằng dịch chiết nước của cây, sau đó tiếp xúc với nhiều tác nhân gây độc thần kinh khác nhau bao gồm β-amyloid25–35 (25 µM trong 24 giờ), tunicamycin (1 µg/mL trong 16 giờ), dithiothreitol (0,5 và 1,0 mM trong 16 giờ), hydrogen peroxide (50 µM trong 16 giờ) và tia UV (32 kJ/cm² trong 2 giờ). Kết quả đo nồng độ LDH cho thấy dịch chiết cỏ roi ngựa ở nồng độ 100 µg/mL làm giảm tỷ lệ chết của tế bào thần kinh tiếp xúc với β-amyloid 9,1% và làm giảm độc tính do dithiothreitol gây ra 9,8% (ở 0,5 mM DTT) và 29,6% (ở 1,0 mM DTT). Tuy nhiên, dịch chiết không thể hiện tác dụng bảo vệ trước tổn thương gây bởi tunicamycin, H₂O₂ và tia UV, điều này cho thấy tác dụng của dịch chiết có thể yếu hơn đối với các tác nhân gây tổn thương trực tiếp lên DNA.
- Chống trầm cảm: Hành vi trầm cảm được đánh giá thông qua ba phép thử: thử nghiệm treo đuôi (TST), thử nghiệm bơi cưỡng bức (FST) trên mô hình chuột nhắt. Ở phép thử TST, thời gian bất động giảm 53 giây ở liều 100 mg/kg và 73 giây ở liều 200 mg/kg so với nhóm chứng. Trong phép thử FST, thời gian bất động giảm lần lượt 36 và 46 giây. Kết quả từ TST và FST cho thấy dịch chiết làm giảm có ý nghĩa thời gian bất động theo kiểu phụ thuộc liều
- Chống ung thư: Đối với ung thư hắc tố (melanoma), ba phân đoạn bán tinh khiết từ dịch chiết methanol (gồm HA, VO79 và EA3) thể hiện độc tính tế bào cực mạnh với giá trị IC50 thấp tới 2,85 µg/mL chống lại dòng tế bào người LOX IMVI, đồng thời ức chế mạnh mẽ sự sinh trưởng của dòng tế bào chuột B16; hoạt tính này được xác định có liên quan đến các hợp chất phân lập gồm lupulone A, hedergonic acid và serjanic acid. Trên các dòng tế bào ung thư đại trực tràng, dịch chiết nước toàn phần thể hiện độc tính tế bào rõ rệt trên dòng biểu mô đại tràng chuột DHD/K12/PROb và dòng ung thư tuyến đại tràng người HCT-116 với giá trị IC₅₀ dưới 20 µg/mL sau 72 giờ xử lý. Các nghiên cứu phân lập hoạt chất cho thấy nhóm phenylethanoid glycoside, đặc biệt các dẫn chất diacetyl hóa như 3‴,4‴-diacetyl-O-isoverbascoside và 3‴,4‴-diacetyl-O-betonyoside A có hoạt tính mạnh nhất. Polysaccharide tách từ phần trên mặt đất của cây cũng cho thấy khả năng ức chế xâm lấn và di căn trên dòng tế bào SW480 ở các nồng độ 50–200 µg/mL thông qua việc làm giảm biểu hiện MMP-9, C-met, COX-2 và EP2, đồng thời làm tăng biểu hiện E-cadherin, từ đó hạn chế khả năng di cư và xâm lấn của tế bào ung thư. Trên mô hình chuột mang khối u gan H22, cao khô V. officinalis ở liều 10, 20 và 40 g/kg thể trọng cho tỷ lệ ức chế khối u lần lượt là 15,71%; 28,20% và 38,78% gần tương đương cisplatin (42,94%) cho thấy tác dụng ức chế phát triển khối u theo kiểu phụ thuộc liều. Ngoài ra, tinh dầu cỏ roi ngựa và thành phần chính citral còn thể hiện khả năng cảm ứng apoptosis mạnh trên tế bào bạch cầu lympho mạn và bạch cầu tủy mạn. Sau 8 giờ xử lý, tỷ lệ apoptosis đạt 68,2% với tinh dầu và 65,9% với citral. Cơ chế tác dụng được cho là liên quan đến sự hoạt hóa caspase-3, qua đó thúc đẩy quá trình chết tế bào theo chương trình.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Đau sưng do đòn ngã: Cỏ roi ngựa khoảng 30 g, rửa sạch, sắc lấy nước uống, khi dùng thêm một ít rượu trắng. Ngoài ra, có thể dùng thân lá tươi giã nát, trộn với rượu, sao nóng rồi đắp lên chỗ đau sưng.
- Lở ngứa: Lấy khoảng 50–100 g cỏ roi ngựa tươi, rửa sạch, nấu nước để tắm rửa hằng ngày và sử dụng liên tục đến khi khỏi.
- Kinh bế: Cỏ roi ngựa 30 g, Ích mẫu 15 g và Ngải cứu 6 g, sắc lấy nước uống mỗi ngày, dùng liên tục trong 3–5 tháng.
- Cảm mạo do phong nhiệt: Cỏ roi ngựa 30 g, lá dâu 10 g và đại thanh diệp 20 g, sắc nước uống để giải nhiệt.
- Mụn nhọt: Cỏ roi ngựa tươi giã nhuyễn, vắt lấy nước cốt uống; phần bã dùng đắp trực tiếp lên chỗ mụn nhọt để hỗ trợ điều trị.














.png)