Riềng rừng (Alpinia conchigera Griff.) là loài cây thảo hằng năm thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), thường mọc rải rác dưới tán rừng ẩm hay ven suối vùng trung du. Trong y học cổ truyền, thân rễ riềng rừng có vị cay, tính nóng và mùi thơm đặc trưng, được dùng làm vị thuốc kiện vị, tiêu thực, kích thích tiêu hóa. Loài cây này ngày càng thu hút sự quan tâm của y học hiện đại nhờ thành phần hóa học và tác dụng dược lý phong phú được chứng minh qua các nghiên cứu khoa học.

Tổng quan

Tên khoa học: Alpinia conchigera Griff. 

Họ thực vật: họ Gừng - Zingiberaceae 

Phân bố và sinh thái: Riềng rừng được tìm thấy ở Ấn Độ, Lào, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam.  Tại Việt Nam, cây được tìm thấy ở một số tỉnh như Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, An Giang. Riềng rừng thường mọc rải rác ở những tán rừng ẩm, ven suối, độ cao phân bố khoảng từ 600 đến 1100 mét. 

Đặc điểm thực vật

Cây thảo, chiều cao khoảng 80cm.

Phiến lá có dạng hình dải hay hình ngọn giáo, hai đầu lá nhọn, ở gân chính có phủ lông, dài khoảng 17cm, rộng khoảng 3cm, bẹ có khía. Cuống lá có cánh nhưng ngắn.

Hoa mọc thành chùy ở ngọn, chiều dài khoảng 11cm, lá bắc có dạng hình ống cao khoảng 5 đến 7mm, mỗi cụm hoa có khoảng 15 đến 25 bông nhỏ. Hoa dài khoảng 1cm, có màu trắng hay màu da cam.

Quả mọng, có dạng hình cầu, đường kính mỗi quả khoảng 8mm, có màu nâu đỏ khi khô.

Mỗi quả gồm 3-5 hạt, hạt có màu vàng nâu, khi ăn có vị cay giống vị của hồ tiêu.

Mùa hoa quả: hoa tháng 5-7, quả tháng 9-12

Bộ phận dùng: thân rễ

Công dụng

Y học cổ truyền

Vị cay, tính nóng, có mùi thơm đặc trưng, cây có tác dụng kiện vị, tiêu thực. Cây dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa, làm ăn ngon cơm, chữa đầy hơi, đau bụng, đau dạ dày, đi lỏng

Y học hiện đại

Thân rễ riềng rừng chứa tinh dầu với các thành phần bao gồm methyl cinnamate, p-methane-1,8-epoxy-acethoxychavicol acetate, alpinin, kaempferide, 3-dioxy-4-methoxy flavone, pinene, camphor, pineol, galangin, (1’S)-1'-acetoxychavicol acetate, (1'S)-1'-acetoxyeugenol acetate, 1'-acetoxychavicol acetate, 1'-acetoxyeugenol acetate, D-camphor, chavicol, chavicol acetate, 1,8-cineole, 3-hydroxy-1,8-cineole glucopyranosides, (1R,2R,4S)- và (1S,2S,4R)-trans-2-hydroxy-1,8-cineole-D-glucopyranosides, (1R,3S,4S)-trans-3-hydroxy-1,8-cineole-D-glucopyranoside, trans-coniferyldiacetate, trans-p-coumaryldiacetate, di-(p-hydroxy-cisstyryl)methane, eugenol acetate, trans-β-farnesene, 7-hydroxy-3,5-dimethoxy flavone, 4-hydroxybenzaldehyde, 1'-hydroxychavicol acetate, p-hydroxycinnamaldehyde, isorhamnetin, kaempferol, kaempferol-4'-methylether, methylcinnamate, kaempferol-7'-methylether, methyleugenol, α-thujene, α-pinene, 3-carene, β-pinene, camphene, myrcene, p-cymene, borneol và α-terpineol. Một số diterpen được phân lập từ cây bao gồm galanga A, galanga B, galanolactone, (E)-β(17),12-labdiene-15,16-dial, (E)-(17)-β-epoxylabd-12-ene-15,16-dial. Một trong những hợp chất tạo mùi thơm đặc trưng của thân rễ A. galanga đã được phân lập và xác định cấu trúc là 1'-acetoxychavicol diacetate.

Nhiều nghiên cứu đã làm sáng tỏ tác dụng dược lý của cây riềng rừng

  • Kháng khuẩn: Dịch chiết nước thể hiện hoạt tính kháng khuẩn rõ rệt đối với Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa Streptococcus pyogenes (ngoại trừ Staphylococcus epidermidis). Tinh dầu từ cây kháng mạnh Streptococcus suis, S. aureus, P. aeruginosa, Erysipelothrix rhusiopathiae, Pasteurella multocida, E. coli, Arcanobacterium pyogenes. Dịch chiết ethanol từ hoa riềng rừng thể hiện hoạt tính kháng S. aureus mạnh với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đạt 0,352–0,547 mg/mL và đường kính vòng vô khuẩn 26–31 mm. Dịch chiết ethanol từ củ có khả năng ức chế S. aureus với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) 0,325 mg/mL và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) 1,3 mg/mL. Quan sát bằng kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) cho thấy dịch chiết gây tổn thương nghiêm trọng cả màng trong và màng ngoài của tế bào vi khuẩn, làm đông vón màng sinh chất và gây rò rỉ vật liệu di truyền (acid nucleic) ra môi trường bên ngoài. 
  • Kháng nấm: Dịch chiết cồn thể hiện tác dụng ức chế phụ thuộc nồng độ đối với các loài nấm da gây bệnh ở động vật và nấm men Candida albicans, đồng thời có hoạt tính kháng các nấm sợi Trichophyton longifusus, Colletotrichum musae Fusarium oxysporum ở nồng độ 10 mg/mL. 
  • Kháng ký sinh trùng: Ở nồng độ 1000 µg/mL, dịch chiết chloroform thể hiện khả năng ức chế tốt đơn bào Entamoeba histolytica và tác dụng chống Giardia intestinalis với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đạt 125 µg/mL. Ngoài ra, các phân đoạn hexan, ethyl acetat và chloroform ở nồng độ 100 µg/mL cũng cho thấy hoạt tính ức chế mạnh trên thể promastigote của ký sinh trùng Leishmania donovani in vitro
  • Chống viêm: Dịch chiết nước và dịch chiết cồn từ củ thể hiện hoạt tính chống viêm rõ rệt trên mô hình gây phù bàn chân chuột bằng carrageenan và mô hình gây u hạt bằng hạt bông. Hoạt chất p-hydroxy cinnamaldehyde từ dịch chiết acetone chứng minh hiệu quả lâm sàng tiềm năng trên tế bào sụn người giúp làm giảm triệu chứng xương khớp. Dịch chiết acetone-nước 80% từ củ ức chế mạnh sự sản sinh NO trên đại thực bào màng bụng của chuột thông qua cơ chế làm suy giảm sự biểu hiện của protein và mRNA của enzyme synthase nitric oxide cảm ứng (iNOS). Hoạt chất ACA cũng thể hiện khả năng kháng NO mạnh trên đại thực bào bị kích hoạt bởi lipopolysaccharide (LPS). 
  • Kháng ung thư: Hợp chất 1,7-bis(4-hydroxyphenyl)-1,4,6-heptatrien-3-one (BHPHTO) và bisdemethoxycurcumin (BDMC) phân lập từ củ Riềng rừng làm giảm đáng kể sự tăng sinh của dòng tế bào ung thư biểu mô hắc tố ở người (melanoma A2058). Thử nghiệm trên dòng tế bào B16-F10 cũng ghi nhận các hoạt chất này làm suy giảm hoạt tính enzyme tyrosinase tế bào và hàm lượng melanin. 
  • Chống loét dạ dày: Dịch chiết ethanol từ củ Riềng rừng trên mô hình chuột cống giúp làm giảm đáng kể lượng dịch vị bài tiết, thể hiện đặc tính chống loét và bảo vệ tế bào niêm mạc dạ dày rõ rệt. Ngoài ra, dịch chiết cồn còn cải thiện các tổn thương tế bào và biến đổi sinh hóa do độc chất cyclophosphamide gây ra trên chuột. 
  • Chống oxy hóa: Dịch chiết cồn 50% thể hiện khả năng quét gốc tự do DPPH và chỉ số năng lực hấp thụ gốc oxy hóa (ORAC) cao hơn rõ rệt so với dịch chiết nước và tinh dầu nguyên chất. Thử nghiệm trên lá và hoa cho thấy các bộ phận này chứa hàm lượng polyphenol tổng số cao, đồng thời có khả năng chelat hóa ion sắt và ức chế quá trình tẩy màu β-caroten một cách tối ưu.
  • Bảo vệ tim mạch: Hoạt chất Galangin thể hiện đặc tính chống oxy hóa mạnh giúp duy trì tính toàn vẹn của màng tế bào, từ đó giảm thiểu tình trạng stress oxy hóa cơ tim do hóa chất chống ung thư Doxorubicin liều cao gây ra. 
  • Bảo vệ gan: Thử nghiệm trên chuột cống bị nhiễm độc gan do sử dụng quá liều Paracetamol cho thấy dịch chiết thô từ củ riềng rừng ở các mức liều 200 mg/kg và 400 mg/kg có tác dụng phục hồi và bảo vệ tế bào gan hiệu quả trước độc tính do thuốc gây ra. 
  • Kháng virus: Dịch chiết methanol và hoạt chất phân lập (1'S)-1'-acetoxychavicol acetate (ACA) thể hiện hoạt tính ức chế mạnh mẽ đối với virus HIV-1 và virus HCMV. Cơ chế kháng HIV-1 của ACA được xác định thông qua việc ngăn chặn quá trình sao chép ngược của virus.
  • Chống dị ứng: Các hợp chất ACA và (1'S)-1'-acetoxyeugenol acetate từ dịch chiết nước có khả năng ức chế sự giải phóng hexosaminidase cũng như các cytokine gây viêm như TNF-α và IL-4 được kích thích bởi phức hợp kháng nguyên–IgE trong phản ứng phản vệ da thụ động (PCA) ở chuột.
  • Điều hòa miễn dịch: Dịch chiết polysaccharide hòa tan trong nước nóng từ củ Riềng rừng chứng minh hoạt tính kích thích và tăng cường đáp ứng miễn dịch (bảo vệ hệ thống lách và kích thích dòng tế bào lách) khi thử nghiệm trên chuột. 
  • Hạ đường huyết: Thử nghiệm dạng bột củ sống cùng dịch chiết nước và dịch chiết methanol trên mô hình thỏ bình thường cho thấy tác dụng làm giảm lượng glucose trong máu một cách có ý nghĩa thống kê. 
  • Diệt giun sán: Dịch chiết nước thu được bằng phương pháp ngâm kiệt thể hiện hoạt tính diệt giun thử nghiệm in vitro phụ thuộc vào liều lượng, cho hiệu quả điều trị tốt khi so sánh với thuốc chuẩn đối chứng Albendazole. Ở khía cạnh nông nghiệp, dịch chiết ethanol còn có đặc tính độc thực vật chống lại loài bèo tấm Lemna minor

Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian

Nhân dân Campuchia sử dụng Riềng rừng để làm thuốc trị ho, Thuốc kích dục, điều chỉnh sự xuất huyết tử cung và làm ra mồ hôi. Bên cạnh đó, Riềng rừng còn được dùng phối hợp với các vị thuốc khác để uống trong trường hợp ho mạn tính, suy giảm chức năng gan dẫn tới vàng da, chóng mặt, đau đầu và viêm tử cung. Riềng rừng khi dùng ngoài làm thuốc đắp để chữa bệnh lý về gan, thấp khớp, đau dây thần kinh.

Nhân dân Malaysia sử dụng lá của cây Riềng rừng (có thể dùng riêng hoặc phối hợp với thân rễ) để làm thuốc chuyển máu. Sau khi hơ nóng thì đắp lá vào chỗ đau trị thấp khớp, nước hãm của lá dùng để tắm rửa. Lá có thể đem giã để đắp sau khi sinh đẻ, xoa vào cơ thể để phòng chống đau xương.

Nhân dân Trung Quốc sử dụng rễ và thân cây để chữa bụng trướng gây đau, tiêu hóa bị rối loạn, đau bụng.

Xem thêm: Danh lục cây thuốc tỉnh Bình Phước (2025)