Đơn châu chấu (Aralia armata (Wall. ex G.Don) Seem.) là loài cây thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), phân bố ở nhiều vùng núi của Việt Nam và các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Lào và Malaysia. Trong y học cổ truyền, rễ, vỏ rễ và lá của cây được sử dụng để giải độc, tiêu viêm, trừ thấp và hỗ trợ điều trị các bệnh đường hô hấp, đau nhức xương khớp. Những nghiên cứu hiện đại cho thấy đơn châu chấu chứa nhiều saponin triterpenoid và một hợp chất hoạt tính sinh học có giá trị khác. Cây được ghi nhận với nhiều tiềm năng dược lý như chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống viêm, bảo vệ mạch máu, ức chế cholinesterase và hỗ trợ chống ung thư, mở ra triển vọng ứng dụng trong nghiên cứu dược liệu và chăm sóc sức khỏe.
%20Seem_%20-%20%C4%90%C6%A1n%20ch%C3%A2u%20ch%E1%BA%A5u.jpg)
Tổng quan
Tên gọi khác: Đinh Lăng Gai, cây Cuồng
Tên khoa học: Aralia armata (Wall. ex G.Don) Seem.
Họ thực vật: họ Nhân sâm- Araliaceae
Phân bố và sinh thái:
Cây có nguồn gốc từ Himalaya, sau đó được du nhập qua nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, cây đơn châu chấu được tìm thấy ở Lào Cai, Hà Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng. Ngoài ra còn có cả ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Malaysia.
Đặc điểm thực vật
cây thân thảo nhỏ, độ cao khoảng 1-2 m.
Thân mảnh, nhiều gai cong quắp, cành mọc lòa xòa.
Lá có tiết diện lớn, kép lông chim 2-2 lần, có 9-11 lá chét, phiến hình trứng dài 4-8cm, rộng 2-3cm, mặt lá nhẵn, trên gân có sợi tơ nhỏ; cuống có bẹ.
Hoa nhỏ, hoa mọc thành cụm hình chùy gồm nhiều tán dài, cuống hoa có gai, màu sắc hoa: lục, vàng nhạt.
Quả hạch hình tròn, màu đen.
Mùa hoa từ tháng 4-6, mùa quả khoảng từ tháng 7 - 9 hằng năm.
Bộ phận dùng: Rễ, cành, lá và vỏ rễ.
Công dụng
Y học cổ truyền
vị cay, hơi đắng, tính ấm. Vỏ rễ có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, tán ứ, khử phong trừ thấp. Rễ có tác dụng kháng sinh mạnh, dùng để giải độc. Trong khi đó, lá cũng có tác dụng tiêu độc.
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Aralia armata chứa chủ yếu các saponin triterpenoid kiểu oleanane, bao gồm calenduloside E, calenduloside G, calenduloside G methyl ester, chikusetsusaponin IV, chikusetsusaponin IVa methyl ester, aramatosides A–B và nhiều glycoside acid oleanolic. Ngoài ra cây còn chứa flavonoid như myricetin, quercetin và một số hợp chất dễ bay hơi gồm azafrin methyl ester và 10-deacetylbaccatin III.
Một số nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra tác dụng sinh học và tiềm năng của Aralia armata:
- Chống oxy hóa: dịch chiết ethanol từ lá có khả năng quét gốc tự do mạnh trong mô hình DPPH và ABTS với IC50 DPPH đạt 43,098 µg/mL trên thử nghiệm in vitro.
- Chống Alzheimer – ức chế cholinesterase: dịch chiết ethanol lá ức chế acetylcholinesterase (IC50 564,36 µg/mL) và butyrylcholinesterase (IC50 17,62 µg/mL), hiệu lực gần berberine chloride. Molecular docking cho thấy các phytochemical gắn mạnh với enzym cholinesterase và có khả năng qua hàng rào máu não
- Kháng khuẩn: dịch chiết ethanol và ethyl acetate lá tạo vòng vô khuẩn khoảng 29 mm đối với Staphylococcus aureus và Escherichia coli trong thử nghiệm khuếch tán đĩa thạch in vitro. Cơ chế được cho là do flavonoid và terpenoid làm rối loạn màng tế bào vi khuẩn
- Chống viêm: các saponin triterpenoid như calenduloside G methyl ester có khả năng ức chế TNF-α thông qua tương tác mạnh với protein đích, Molecular dynamics cho thấy độ ổn định liên kết cao hơn chất đối chứng SPD304
- Bảo vệ mạch máu – chống tăng sản nội mạc: dịch chiết đơn châu chấu liều 40–80 mg/kg làm giảm hẹp lòng mạch sau tổn thương động mạch đùi ở chuột thông qua cơ chế ức chế con đường tín hiệu Wnt/β-catenin, làm giảm biểu hiện α-SMA, PCNA, GSK-3β, β-catenin và cyclin D1
- Ức chế tăng sinh và di chuyển tế bào cơ trơn mạch máu: dịch chiết đơn châu chấu nồng độ 0–15 µg/mL ức chế proliferation và migration của vascular smooth muscle cells (VSMCs) thông qua việc điều hòa tín hiệu Wnt/β-catenin
- Chống ung thư: các saponin oleanane-type từ lá như narcissiflorin thể hiện độc tính mạnh trên các dòng tế bào HT29, A549 và A2058; IC50 khoảng 2,01–18,8 µM. Cơ chế của tác dụng này được cho là có liên quan đến cảm ứng apoptosis và ức chế tăng sinh tế bào trên mô hình in vitro. Với ung thư gan: các glycoside triterpen từ lá và rễ cho hoạt tính gây độc tế bào mức độ yếu–trung bình trên dòng tế bào HepG2 và KB với IC50 khoảng 23–33 µM
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Điều trị tình trạng viêm khớp: khoảng 10-30g rễ cây đơn châu chấu. Cách làm: Rửa sạch, sắc lấy nước uống. Thường sắc cùng với xà cừ (hàm lượng khoảng 10g), mặt quỷ (khoảng 10g) để tăng hiệu quả giảm sưng viêm.
- Điều trị hen: Rễ đơn châu chấu: 12g, Rễ cây ngấy tía: 8g, Rễ cây han tía: 8g. Nguyên liệu đem rửa sạch, xắt nhỏ, phơi khô. Sau đó đem sắc với nước để uống.
- Chữa viêm đường hô hấp như ho lâu ngày, viêm amidan, viêm họng: Rễ đơn châu chấu: 20g, vỏ cây khế chua: 20g. Rửa sạch, thái nhỏ, sắc cùng với nước để uống. Kiên trì dùng một thời gian, các triệu chứng sẽ giảm đáng kể.
- Điều trị các trường hợp bí đái: Rễ đơn châu chấu khoảng từ 8-12g. Rửa sạch, sắc lấy nước nước.
- Trị các trường hợp bị sưng vú: Rễ đơn châu chấu: 20g, vỏ rễ cây sản: 20g, Bồ công anh: 20g, kim ngân: 20g, Lá Mua đỏ: 20g. Giã nát hỗn hợp các nguyên liệu trên cùng với muối, sau đó trộn cùng với nước vo gạo. Sau đó, đắp hỗn hợp này lên vùng bị sưng.














.png)