Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) là loài cây thuốc quen thuộc thuộc họ Cúc (Asteraceae) được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền của nhiều quốc gia châu Á. Ở Việt Nam, cây được trồng khá phổ biến tại các tỉnh miền núi phía Bắc và thường xuất hiện trong cả những bài thuốc dân gian lẫn đời sống hằng ngày. Với mùi thơm đặc trưng và tính ấm, ngải cứu từ lâu được dùng để hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau, an thai, trừ hàn thấp hay làm nguyên liệu trong châm cứu. Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy loài cây này chứa đa dạng hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học đáng chú ý, mở ra tiềm năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

Tổng quan
Tên gọi khác: cây thuốc cứu, cây thuốc cao, ngải điệp
Tên khoa học: Artemisia vulgaris L.
Họ thực vật: họ Cúc - Asteraceae
Phân bố và sinh thái: Cây có nguồn gốc ở vùng ôn đới ấm châu Âu hoặc châu Á, hiện mọc hoang và được trồng ở vùng nhiệt đới Nam Á, Đông Nam Á, Ấn Độ, Pakistan, Sri lanka, Lào, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc… Tại Việt Nam, cây được trồng nhiều ở Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hòa Bình, Hà Giang…
Đặc điểm thực vật
Cây cỏ sống lâu năm, cao 50 – 60cm, thân to có rãnh dọc. Lá mọc so le, rộng, không có cuống (lá phía dưới thường có cuống), xẻ thùy lông chim, màu lá ở hai mặt rất khác nhau: Mặt trên nhãn màu lục sẫm, mặt dưới màu trắng tro do có rất nhiều lồng nhỏ, trắng.
Hoa mọc thành chùm kép gồm rất nhiều cụm hoa hình đầu, tổng bao gồm những lá bắc nguyên giống như những vảy có lông; đầu mọc chúc xuống cùng phía, hình trứng cụt, mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính trên cùng 1 cụm hoặc ở những cụm khác nhau; thường hoa cái chiếm nhiều hơn, hoa không có mào lông; tràng hoa cái có ống mảnh, cụt hoặc có 2 răng ở đầu, tràng hoa lưỡng tính hình phễu, có 5 thùy uốn cong ra ngoài; nhị 5.
Quả bế, thuôn nhỏ, không có túm lông.
Toàn cây có mùi thơm hắc. Mùa hoa quả vào tháng 10-12.
Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất. Ngải nhung: Lá được sao qua, để cho mềm, cho vào cối giã kỹ đến khi mịn như nhung, bỏ xơ và bột vụn, dùng để cứu trong châm cứu. Ngải thán: Lá cho vào nồi, sao to lửa tới khi chuyển đen, trộn cùng giấm, sao khô hoặc phơi âm can tới khô.
Công dụng
Y học cổ truyền
Vị đắng, cay, tính ấm, vào các kinh can, tỳ, thận. Tác dụng chỉ huyết, trừ hàn thấp, điều kinh, an thai. Chủ trị: Kinh nguyệt không đều, băng huyết, rong huyết, thổ huyết, khí hư bạch đới, động thai, viêm ruột, lỵ.
Y học hiện đại
Thành phần hóa học: Ngải cứu chứa tinh dầu với thành phần chủ yếu là monoterpenoid và sesquiterpenoid. Các hợp chất thường gặp gồm 1,8-cineol, camphor, camphene, sabinen, borneol, β-caryophyllen, germacren D, α-zingiberen, α-thujon và β-thujon; trong đó 1,8-cineol và thujon thường chiếm hàm lượng cao. Tinh dầu phần rễ giàu neryl 2-methylbutanoate, β-eudesmol, bornyl 3-methylbutanoate và một số sesquiterpen ba vòng hiếm như isocomene, silphin-1-ene và presilphiperfol-7-ene. Phần trên mặt đất còn chứa flavonoid phong phú như apigenin, luteolin, quercetin, rutin, eupafolin, jaceosidin, diosmetin, vitexin, kaempferol glycosid và eriodictyol; ngoài ra còn có coumarin (scopoletin, esculetin), sesquiterpen lacton, phenolic, saponin, steroid, triterpenoid, glycosid và tanin. Một số hợp chất đặc trưng khác đã được ghi nhận gồm artemisic acid, artemisinin B, yomogin và các flavon methoxyl hóa. Ngoài ra phần trên mặt đất còn phát hiện menthol, α-pinen, β-eudesmol và spathulenol.
Tác dụng dược lý của ngảu cứu được chứng minh qua nhiều bài báo, tài liệu nghiên cứu khoa học và thực nghiệm trên mô hình in vitro và in vivo:
- Chống oxy hóa: Dịch chiết nước, ethanol và tinh dầu ngải cứu có khả năng bắt gốc tự do DPPH, ABTS, NO, superoxide và ức chế peroxy hóa lipid; đồng thời làm tăng hoạt tính superoxide dismutase, glutathion và acid ascorbic trên mô hình động vật thực nghiệm.
- Chống viêm, giảm đau: Dịch chiết methanol và hydroalcohol làm giảm phù chân, giảm hình thành u hạt cotton pellet và giảm số cơn quặn đau do acid acetic; tác dụng liên quan đến ức chế cyclooxygenase, lipoxygenase, nitric oxide và các cytokine gây viêm như TNF-α, IL-2, IL-4, IL-6.
- Kháng khuẩn, kháng nấm: Tinh dầu phần trên mặt đất ức chế nhiều vi khuẩn và nấm như Escherichia coli, Salmonella enteritidis, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus, Candida albicans và Aspergillus niger
- Bảo vệ gan: Dịch chiết nước–methanol có tác dụng bảo vệ gan trên mô hình gây viêm gan bằng d-galactosamin/lipopolysaccharid, làm giảm AST, ALT, giảm phù tế bào và hoại tử mô gan.
- Hạ lipid máu, chống đái tháo đường: Dịch chiết rễ và lá giúp giảm cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL, VLDL, tăng HDL và cải thiện các chỉ số đường huyết, chức năng thận trên mô hình chuột tăng lipid máu và đái tháo đường.
- Chống co giật, an thần: Dịch chiết methanol lá và thân kéo dài thời gian khởi phát co giật do pentylenetetrazol, picrotoxin, strychnin gây ra; đồng thời có tác dụng an thần và giải lo âu thông qua tăng dẫn truyền GABAergic.
- Chống sốt rét, tẩy giun: Dịch chiết lá thể hiện hoạt tính kháng Plasmodium yoelii và P. berghei trên chuột; ngoài ra còn làm giảm đáng kể số lượng ấu trùng Trichinella spiralis trong mô cơ.
- Chống co thắt, giãn phế quản: Dịch chiết có tác dụng giãn cơ trơn ruột và khí quản, đối kháng thụ thể histamin H1 và tác động kiểu kháng cholinergic, đối kháng Ca²⁺.
- Ức chế MAO: Các flavonoid và coumarin như apigenin, luteolin, quercetin, scopoletin có tác dụng ức chế monoamine oxidase (MAO) trên não chuột.
- Gây độc tế bào: Dịch chiết methanol và tinh dầu thể hiện hoạt tính trên nhiều dòng tế bào ung thư như MCF-7, HeLa, HL-60, A549; cơ chế liên quan đến cảm ứng apoptosis qua con đường caspase và ty thể.
- Chống sinh sản: Dịch chiết methanol lá ngải cứu ở liều 300–600 mg/kg thể hiện hoạt tính chống sinh sản mạnh trên chuột cái, làm giảm rõ rệt sự hình thành ổ làm tổ (đến 100% ở liều cao), đồng thời làm tăng khối lượng tử cung trên chuột cắt buồng trứng non, cho thấy tác dụng estrogen rõ rệt.
Ứng dụng và một số bài thuốc dân gian
- Chữa thiếu máu: Ngải cứu, Ích mẫu, Hà thủ ô, lá Sung, Củ mài mỗi vị 20g, Hạt Sen, Táo nhân, Đẳng sâm, Thục Địa mỗi vị 12g. Sắc uống hoặc làm viên, mỗi ngày uống 20-40g.
- Chữa tiểu máu: Ngải cứu sao, Hoàng Kỳ, Bạch Truật, Đẳng sâm, Sài Hồ, Thạch bá chi, ngó Sen sao mỗi vị 12g, Cỏ nhọ nồi 16g, Đương quy, Trần Bì, Thăng Ma mỗi vị 8g, Cam Thảo 6g. Sắc uống.
- Chữa đi ngoài ra máu: Ngải cứu, Gừng sống, sắc uống.
- Chữa đau lưng cấp khi vác nặng, lệch tư thế: Lá Ngải cứu sao rượu đắp ấm tại chỗ.
- Thuốc xoa bóp chữa phong thấp: Ngải cứu, Phèn chua sao lẫn rồi đắp và xoa bóp vào chỗ đau.
- Chữa ho: Lá Ngải cứu, lá Nguyệt bạch, Bọ mắm, mỗi thứ một nắm, trà ngon vừa đủ, Gừng 3 lát. Sắc uống.
- Chữa sỏi tiết niệu không đau, không tiểu máu, không tiểu buốt, tiểu rắt: Ngải cứu 16g, Kim tiền thảo 40g, Kê nội kim 8g. Sắc uống.
- Chữa cảm thương hàn, đau đầu phát nóng, mạch thịnh: Ngải cứu khô 300g sắc uống cho ra mồ hôi.
- Chữa trúng phong cấm khẩu: Dùng lá Ngải cứu đốt cứu ở huyệt dưới môi và bên gốc hàm (phối hợp với bài thuốc uống khác).
- Chữa tỳ vị lạnh sinh đau: Ngải cứu tán nhỏ uống với nước chín.
- Chữa đấu phong, mặt lở ngứa chảy nước vàng: Ngải cứu 80g, Giấm thanh 600g sắc lấy nước, lấy giấy mỏng thấm nước thuốc rồi đắp, ngày 2 lần.
- Chữa lưỡi co thun không nói được: Lá Ngải cứu tươi giã vắt lấy nước bôi.
- Chữa lở loét: Lá Ngải cứu khô đốt tồn tính và tán bột rắc.
- Chữa trúng hàn thấp đau vùng tim bụng lan ra hông sườn: Ngải cứu, Quế, Gừng khô mỗi vị 8g, Gừng sống 3 lát. Sắc uống nóng.
- Chữa trẻ em đau bụng do giun đũa: Lá Ngải cứu tươi 8g giã nhỏ, chế nước sôi, vắt lấy 1 chén to, uống lúc sáng sớm sau khi ăn 1 miếng thịt nướng. Vài giờ sau đi ngoài thì giun ra.
- Chữa khí hư: Lá Ngải cứu chưng với trứng gà rồi ăn.
- Chữa băng huyết: Lá Ngải cứu khô 1 nắm, Gừng khô 1 đồng cân, sắc lấy nước. Lấy A giao 50g sao tán nhỏ hòa vào thuốc trên, uống làm 3 lần.
- Chữa kinh chậm, lượng ít, máu nhạt hoặc xám đen: Ngải cứu, Thục địa, Đẳng Sâm mỗi vị 12g, Xuyên Khung, Hà Thủ Ô mỗi vị 10g, Can khương, Xương bồ mỗi vị 8g.
- Chữa rong kinh, máu ra nhiều: Lá Ngải cứu khô 20g, sắc với 100ml tới khi còn 20ml, thêm đường, chia làm 2 lần uống sáng - chiều, dùng hàng tháng.
- Thuốc điều kinh: Ngải cứu 50g, Ích mẫu, Hương Phụ mỗi vị 100g. Dạng thuốc viên hoặc cao lỏng có đường, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10-15g.
- Chữa đau bụng sau hành kinh: Ngải cứu 8g, Đẳng sâm 16g, Hoài Sơn, Bạch truật, Hà thủ ô, Kê Huyết Đằng, Ngưu tất mỗi vị 12g, Nhục quế, Can khương mỗi vị 6g. Sắc uống.
- Chữa động thai: Lá Ngải cứu, Tía Tô mỗi vị 16g. Sắc đặc with 600ml nước tới khi còn 100ml, thêm đường, chia làm 3-4 lần uống trong ngày.
- Chữa sảy thai liên tiếp: Ngải cứu, Hoàng Cầm mỗi vị 8g, Củ gai 20g, Tô ngạnh, Tang kỳ anh mỗi vị 16g, Thục địa 12g, Đương Quy 10g, Cam thảo 4g. Sắc uống.
- Chữa rong kinh sau đặt vòng tránh thai: Ngải cứu, Đào nhân, Uất kim, Nga truật, Hương phụ mỗi vị 8g, Ích mẫu 20g. Sắc uống.
- Chữa băng huyết và rong huyết kéo dài: Ngải cứu, Bạch Thược, Cao sừng hươu mỗi vị 12g, Thục địa 16g, Đương quy, Xuyên khung, A giao, Phụ Tử chế mỗi vị 8g, Thán khương 6g. Sắc uống.














.png)